Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


XÁC MINH
VỀ NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN

     Hồi tưởng lại 30 năm từ một biến cố lịch sử, dù thời gian khá dài, dù mỗi gia đ́nh tị nạn có hoàn cảnh riêng khác nhau, nhưng hầu hết mọi người tị nạn đều có một nỗi buồn chung là bị bứng khỏi cội nguồn của ḿnh, có chung một nỗi thấm thía, đau thương của cuộc “cách mạng tàn nhẫn và dối trá” mà những người CS đem đến cho dân tộc ta. Cộng sản cưỡng chiếm và thống trị toàn cơi Việt Nam, sau gần 30 năm qua hai cuộc chiến phức tạp và tang tóc. Những người yêu nước chân chánh, những người yêu chuộng và bảo vệ cho lư tưởng tự do dân chủ đă phải thất bại trong lần này, dù có giải thích cách này hay cách khác. Dù mang nặng nỗi buồn xa xứ, nhưng không tuyệt vọng, v́ thế giới có những đổi thay, và niềm tin vào hoài băo cho một Việt Nam tự do, dân chủ và phú cường vẫn c̣n trong ḷng người tị nạn. Chiến tranh Việt Nam là một trong các cuộc chiến thảm khốc nhứt và tốn hao nhứt. Có hàng triệu người Việt ở cả hai miền bị thiệt mạng, cùng nhiều mất mát khác. Dù nguyên do và bản chất hai cuộc chiến có khác nhau, nhưng có một điểm chung là dân tộc Việt phải gánh chịu hầu hết các hậu quả đau thương đó, nó như một định mệnh quá khắc khe. Thực vậy, dân tộc Việt Nam đă phải trải qua, đă chịu đựng tất cả các biến cố lớn của lịch sử: chủ nghĩa bá quyền thâm độc của Trung Hoa, của thực dân xâm lăng Pháp, của Phát xít Nhựt tàn ác, của chủ nghĩa cộng sản không tưởng và sắt máu, của sự tranh chấp gay go giữa hai khối tự do và cộng sản, của sự phân chia ảnh hưởng của các cực quyền lực trên thế giới. Một trong các hậu quả đó là từ 1975 đến nay, có gần 3 triệu người Việt đă trốn bỏ quê hương và hiện sống trên 40 quốc gia. Đó là lần xa ĺa quê cha đất tổ lớn nhứt và duy nhứt trong lịch sử chúng ta; và cũng là một trong các cuộc di cư lớn nhứt và thảm thương nhứt của nhân loại.
     Trong nhiều năm qua đă có rất nhiều người, nhiều nhóm, nhiều cơ quan nghiên cứu về người Việt tị nạn. Tuy nhiên, theo tôi hăy c̣n nhiều chuyện cần phân tích thêm, cần minh xác lại. (Người tị nạn ở đây tôi dùng cho cả người di dân, v́ rằng số người Việt thuộc diện tị nạn (Refugee status), chiếm độ 75% của tổng số người đến theo diện di dân (Immigrant status) vào khoảng 25%). Suốt lịch sử Hoa Kỳ, đă có nhiều cuộc di cư, mỗi sắc tộc đang sống ở đây có nguồn gốc và nguyên do rời bỏ quê hương ra đi khác nhau. Cho nên mỗi biến cố như vậy tự nó có những bài học chẳng những cho sắc tộc đó mà c̣n cho đất nước Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào có nhiều người tị nạn sanh sống. Đối với thế giới, đó là một thảm trạng. Đối với dân tộc VN, nó như một tổng hợp nhiều mặt của thân phận con người, và thân phận của một nước nhỏ.
     Trong tinh thần t́m hiểu và xác minh về người Việt tị nạn, chúng tôi xin góp một số ư kiến về căn do của sự vượt thoát và thành quả có ư nghĩa của sự hiện hữu của người Việt tị nạn. Trong bài này, chúng tôi muốn nói đến người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ mà thôi, v́ cộng đồng người Việt ở đây chiếm trên 50% của người Việt hải ngoại, lại mang nhiều sắc thái hơn.
     - Căn nguyên của người Việt tị nạn
     - Trưởng thành của cộng đồng tị nạn
     - Sự hội nhập của người tị nạn
     - Người tị nạn và quê hương
I. CĂN NGUYÊN RA ĐI CỦA NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN
     Có một số lư do gợi nhắc chúng tôi thấy cần nói lại nguyên do xa gần của sự bỏ nước ra đi của người Việt tị nạn. Đó là: Thời gian làm cho một số người tị nạn có thể quên cái căn do sâu xa đă khiến cho ḿnh phải liều mạng trốn ra đi. Lại gần đây có một ít người tị nạn vô t́nh hay cố ư chối bỏ lư lịch tị nạn của ḿnh. Có một số nghiên cứu về người Việt tị nạn diễn đạt có phần sai lệch. Hướng về tương lai xa, các thế hệ thứ ba thứ tư của con cháu tị nạn…sẽ không hiểu được bởi cơ duyên nào ḿnh là người Mỹ da vàng. Nghĩa là 30 năm nữa, sẽ có nhiều khó khăn trong việc xác minh một cách đầy đủ và đúng đắn cái cội nguồn của cộng đồng tị nạn của chúng ta, v́ hiện nay và sau này nữa, có rất nhiều sách báo, bài nghiên cứu từ nhiều đại học, từ nhiều cơ quan, kể cả phía bên CSVN, trong đó có một số tác giả vô t́nh hay cố ư làm rối bời vấn đề bằng những luận cứ lệch lạc, hay không đúng hết sự thật. Những người tị nạn thuộc thế hệ thứ nhứt không thể nào không nhớ, dù nhiều hay ít, nhớ không phải để hận thù hay để ấp ủ nỗi đau thương, về cái nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân gần, khiến cho 3 triệu người phải sinh sống ở ngoài quê hương của ḿnh. Vấn đề cần được xét qua các mặt: luật lệ định nghĩa thế nào là người tị nạn, truyền thống văn hóa VN, sự thể phải rời bỏ quê hương, sự tranh chấp lâu dài và ác liệt giữa người cộng sản và người không-cộng-sản.
     1. Định nghĩa về người tị nạn
     Theo các luật lệ của Hoa Kỳ, và của Liên Hiệp Quốc, th́ “người tị nạn là người đă bị hành hạ (persecution) khi c̣n ở trong nước ḿnh v́ sự khác biệt về chánh kiến, hoặc về tôn giáo hay về sắc tộc, và họ không thể trở lại quê hương v́ sẽ bị trả thù hay bị ngược đăi nữa“. Như vậy có hai yếu tố chánh để gọi tị nạn chánh trị là: Bị hành hạ về thể xác hay tinh thần hoặc cả hai mặt, thứ hai là khi trở lại quê hương ngay sau đó (lúc phỏng vấn để được xác nhận cho qui chế tị nạn) và dưới chánh quyền đó, th́ sẽ bị bạc đăi nữa. Bây giờ chúng ta thử xem tuyệt đại đa số người Việt ở Hoa kỳ có phải là người tị nạn hay không?
     - Theo định nghĩa trên và thể thức khi phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn nhận cho vào Mỹ với tư cách là người tị nạn th́ ta thấy rơ ràng những nhóm người Việt sau đây là người tị nạn chánh trị. Đó là các nhóm:
     • Nhóm người di tản vào cuối tháng tư năm 1975: Họ gồm những sĩ quan cao cấp, những viên chức chánh quyền trung và cao cấp, những nhà lănh đạo các đảng phái chống cộng, một số công kỷ thương gia lớn. Tổng số không nhiều, vào khoảng 130.000. Những người này nếu c̣n ở lại VN chắc chắn đă bị Cộng sản bỏ tù ít nhứt là 5 năm. Nhà cửa bị tịch thu. Vợ con bị đuổi đi vùng kinh tế mới.
     Một trong các xác minh là có một số người di tản hồi tháng tư 1975 đă đến đảo Guam rồi nhưng v́ nhớ vợ thương con mà trở về trên tàu Việt Nam thương tín. Khi về tới VN th́ bị CSVN cho vào tù.
     • Nhóm người vượt biên (đường biển hay đường bộ): Họ đă bỏ nước ra đi từ 1978 dến 1994. Họ đi trong tan nát, trong đau thương, trong rối loạn. Trong gần 15 năm trời họ liều chết để t́m một cuộc sống b́nh thường và b́nh an mà họ bị đối xử tàn tệ dưới chế độ mới. Họ là sĩ quan, là viên chức chánh quyền, hành pháp cũng như lập pháp, từ trung ương tới địa phương, họ là thành viên của các đảng phái chống cộng như Đại Việt, Việt Quốc, Tân Đại Việt, Ḥa Hảo, Cao Đài, Tin Lành, Công giáo, Phật giáo…Họ bị cải tạo ngắn hạn hay dài hạn, hay là những nhà tư sản. Nói tóm lại đó là những thành phần chốùng cộng để xây dựng tự do dân chủ trong lư tưởng cũng như trong thực tế. Đối với cộng sản đây là thành phần phản động, thành phần chống “cách mạng”. Cộng sản không phải chỉ có những biện pháp tàn nhẫn đối với những người trực tiếp chống cộng mà c̣n có nhiều biện pháp đàn áp những thành viên của gia đ́nh những người nói trên.
     Miền Nam có độ 1.000.000 quân, 300.000 cán bộ, viên chức dân cử, và công chức đủ ngành, độ 50.000 thành viên quan trọng của các đảng phái Quốc gia, độ 50.000 thuộc thành viên lănh đạo các tôn giáo chống cộng, ít nhứt 100.000 nhà tư sản lớn hay công kỷ thương gia mà CS gọi là tư sản mại bản. Như vậy tổng cộng các đối tượng phải bị một số biện pháp trừng trị, nặng hay nhẹ, ước lượng vào khoảng 1.500.000 người. Lấy trung b́nh một gia đ́nh nói trên có ít nhứt 4 người th́ số người ở miền Nam phải chịu sự trả thù của cộng sản, dưới nhiều h́nh thức khác nhau, lên đến 6.000.000 trong tổng số dân là 25.000.000.

     Các biện pháp đàn áp mạnh nhứt được áp dụng đối với những người cao cấp mà cộng sản gọi là “có nợ máu với nhân dân” th́ bị “tập trung cải tạo”, bị giam từ 2 năm đến 17 năm trong điều kiện đói khát và không có tối thiểu vệ sinh. Có rất nhiều người chết trong các trai tù v́ bịnh tật hay bị tra tấn. Số người nằm trong diện “cải tạo dài hạn” vào khoảng 300.000 Một số viên chức bị đem ra xử tử ngay tại địa phương trong mấy ngày đầu tháng năm, 1975. Khi được ra khỏi tù, những người cải tạo như bơ vơ, lạc lơng trên quê hương ḿnh, không t́m được việc làm, con không vào được đại học, mất cả tương lai, tương lai của ḿnh và của con ḿnh. Về phương diện chánh trị đó là một hành động bạc đăi kế tiếp liên tục và thâm độc. Những người này chỉ c̣n một con đường trốn chạy khỏi quê hương. Một số không lớn may mắn thoát được, một số không may bị bắt và bị ngồi tù 2-3 năm nữa. Một số vợ con của người đi cải tạo chưa ra, đă vượt biên trước. C̣n những công kỷ thương gia th́ bị đánh trong chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp miền Nam”, bao nhiêu tài sản tạo ra trong nhiều năm đă tiêu tan hết. Những người này có đi cướp giựt của ai đâu. Như vậy chúng ta thấy rơ ràng những người vượt biên đă bị hành hạ trước khi được định cư ở Hoa Kỳ hay ở một quốc gia khác. Đặc biệt đốùi với những người vượt biên đươc định cư tại Hoa Kỳ đều được các phái đoàn Mỹ phỏng vấn rất kỹ, nếu là tị nạn chánh trị mới được nhận cho vào Mỹ. Người tị nạn tại các đảo phải chứng minh cho phái đoàn ḿnh hay gia đ́nh ḿnh bị chánh quyền CSVN bạc đăi và nếu có trở lại VN sẽ tiếp tục bị hành hạ. Sau 1995 th́ việc cứu xét cho tị nạn hếùt sức khó khăn, khi ’t́nh thương đă mệt mỏi’.
     • Những người tị nạn diện người Hoa: Người ta ước lượng có khoảng vài trăm ngàn người Việt gốc Hoa đă phải t́m cách thoát khỏi Việt Nam trong chiến dịch đàn áp trong những năm 1978-1980 v́ lư do là Việât Nam và Trung Quốc thù nghịch nhau, nhưng bên ngoài th́ CSVN lấy chiêu bài “cải tạo công thương nghiệp”. Chúng ta c̣n nhớ bi hài kịch “vượt biên bán chánh thức” về việc người Hoa đăng kư xuất ngoại nộp cho công an 12 lượng vàng mỗi người để được b́nh yên bước xuống tàu đi vượt biên. Hài kịch kéo dài hơn một năm th́ ngưng v́ bị thế giới phản đối, v́ chánh quyền VN lấy vàng rồi đẩy cho người khác phải nuôi. Những người này được Mỹ xét cho đi tị nạn chánh trị v́ lư do “kỳ thị sắc tộc”.
     • Những người cựu tù nhân chánh trị: Đây là một chương tŕnh đặc biệt và to lớn (c̣n gọi là chương tŕnh HO). Do sự thỏa hiệp của Hoa Kỳ và Việt Nam kư vào tháng 9 năm 1989 th́ những “người tù cải tạo” ở tù 3 năm trở lên th́ được đi Mỹ tị nạn. Chương tŕnh bắt đầu từ 1990 và kéo dài đến 1998. Có tất cả độ 200.000 người vừa HO cộng với vợ con đă định cư tại Hoa Kỳ từ 1990. Đối với những người HO th́ đây chính là sự cứu vớt to lớn và có ư nghĩa. Anh em HO được đi cả gia đ́nh mà những người vượt biên không có được may mắn này. Những người này được “đổi đời lần thứ hai”, lần thứ nhứt khi Cộng sản vào họ đi từ cuộc sống b́nh thường đổi thành tan nát, lần này th́ ngược lại từ hoàn cảnh mất tương lai thành ổn định và có ngày mai tươi sáng cho con cháu. Đối với Hoa Kỳ th́ đây là nhóm người tị nạn cộng sản rất lớn và được đi bằng máy bay đàng hoàng có đầy đủ vợ con. Dù bạn không có bị cải tạo hay thân nhân ruột thịt bị đọa đày qua nhiều trại cải tạo, nhưng thế nào bạn cũng có nghe nói ít nhiều về cảnh hành hạ chưa từng có trong lịch sử của chúng ta mà kẻ chiến thắng đă dành cho kẻ chiến bại. Những cái mà người cộng sản gọi là trả thù là tiêu diệt “bọn Mỹ- Ngụy” rơ ràng ai cũng thấy, ai cũng biết rằng những người HO là người ti nạn chánh trị.
     • Người tị nạn “diện con lai”: Những người mang hai ḍng máu Việt Mỹ lại sanh ra trong chiến tranh Việt Nam. Trong một xă hội b́nh thường và được sanh ra trong khoảng thời gian b́nh thường th́ một người mang hai ḍng máu là thường. Nhưng trường hợp các em này ở trong hoàn cảnh trớ trêu, đáng thương tâm khi cộng sản chiếm miền Nam. Chánh quyền mới đối xử thậm tệ với các em, bảo các em là con kẻ thù, các em là thành phần xă hội xấu, là tàn dư Mỹø ngụy (mà “xă hội chủ nghĩa” chỉ đào tạo con người tốt mà thôi!, đó là lời của đảng). Do đó nhiều em bị tập trung cải tạo. Hầu hết các em ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về vật chất lẫn tinh thần.
     Vào năm 1988, Quốc hội Hoa Kỳ đă chấp thuận đạo luật cho con lai được nhận vào Hoa kỳ (đạo luật Amerasian Homecoming Act). Chương tŕnh bắt đầu từ 1988, và coi như hết vào năm 1996, thực ra sau đó cũng c̣n ít trường hợp v́ diện con lai không có thời hạn chấm dứt như diện HO (diện HO ấn định là 5 năm, nhưng sau đó có gia hạn). Theo báo cáo của cơ quan ODP cũng như cơ quan đinh cư tị nạn th́ tổng cộng con lai và thân nhân vào khoảng 80.000. Có thể nói chương tŕnh con lai vừa có tính cách chánh trị vừa có tánh cách xă hội. Mức độ đàn áp không thể hiện mạnh mẽ như đối với anh em thuộc chế độ cũ, nhưng nó cũng mang tánh chất kỳ thị và phân biệt đối xử. Đó là một h́nh thức bạc đăi. Giờ đây sau hơn 15 năm, các em đa số có cuộc sốùng tương đối ổn định.
     • Những người theo diện di dân: Theo đúng nguyên tắc th́ những người được đến sống luôn tại Hoa kỳ dưới diện di dân th́ phần lớn phải có thân nhân bảo trợ (có một số rất ít được lưu trú do là chuyên viên đặc biệt mà Mỹ cần. Mỗi năm Hoa Kỳ nhận từ 700.000 đến 900.000 người di dân từ khắp nơi trên thế giới. Những người này không được trợ cấp ǵ cả. Người di dân Việt cũng ở trong nguyên tắc chung này. Chương tŕnh này chính thức thi hành từ 1979 mang tên là “Orderly Departure Program” có một số được ra đi từ 1982 và tăng dần lên rồi mấy năm qua th́ lại giảm xuống. Cho tới nay có khoảng 300.000 người định cư ở Mỹ theo diện này. Nếu xét về định chế th́ họ không phải là người tị nạn, nhưng truy nguyên từ nguồn gốc th́ họ là cha mẹ, vợ con, anh chị em của những người tị nạn chánh trị đă bỏ nước ra đi trước kia. Có thể xem những người di dân là những người “bán tị nạn”. Những người c̣n ở lại bị phân biệt đối xử, họ bị xem như những người dân thứ yếu, nhứt là trong những năm từ 1975- 1985.
     Nói tóm lại, những người ti nạn tại Hoa kỳ thuôc các nhóm vừa kể ở trên có thể minh xác lại tuyệt đại đa số là người tị nạn chánh trị và không ai có thể chối bỏ hay bóp méo căn nguyên này.
     2. Về phương diện văn hóa và lịch sử
     Trên b́nh diện văn hóa và trải qua chuỗi dài lịch sử, người Việt ít khi bỏ làng, nhứt là bỏ nước ra đi ở một phương trời xa lạ để tha phương cầu thực. Tập tục chúng ta là sống quanh quẩn trong làng, gắn bó t́nh quê hương qua thôn xóm. Điều trên được thể hiện rơ trong 1000 năm bị Tàu đô hộ, nhưng gần như không ai bỏ nước ra đi, mặc dù các quan Thái thú rất ác ôn. Trong thời gian gần 100 năm bị Pháp cai trị cũng rất ít người bỏ nước, chỉ trừ một số ít sĩ phu ra hải ngoại để t́m cách giải phóng đất nước. Sự kiện lịch sử rơ ràng đó nói lên người Việt sợ chế độ cộng sản hơn sợ chánh quyền ngoại xâm, dĩ nhiên người Việt không chấp nhận bất cứ h́nh thức xâm lăng nào đối với tổ quốc.
     Về phương diện lịch sử chánh trị, cộng sản đă gieo rắc quá nhiều kinh hoàng và lừa đảo suốt từ 1945. Cộng sản Việt Nam đă làm mọi thứ chuyện, mọi thủ đoạn sát hại người yêu nước chơn chánh, các đảng phái quốc gia…Những chuyện xảy ra c̣n in sâu trong tâm trí nhiều người trở thành một nỗi lo sợ khó quên. Khi chiếm miền Nam, người dân thấùy tận mắt những hành động, những biện pháp “cải tạo xă hội chủ nghĩa” toàn là hắc ám, là côn đồ, không có đạo đức chánh trị tối thiểu, như việc bắt nhốt hằng trăm ngàn người không c̣n chống đối, không có vũ khí ngay cả để tự vệ, cho vào tù, tịch thu các cơ sở làm ăn, sa thải những người làm việc cũ kể cả giáo chức, tịch thu vàng và tiền, cưỡng bức, lùa dân đi vùng kinh tế mới, chia lại ruộng đất cho đảng viên…Dân miền Nam cảm thấy đang hứng chịu một chế độ kỳ quái!
     Các sự kiện lịch sử cũ và mới đó làm tăng thêm yếu tố thôi thúc nhiều người phải t́m cách bỏ nước ra đi. Người dân cảm thấy khó có thể sống dưới một thể chế vừa độc tài áp bức vừa tiếp cận với nghèo đói.
II. NHỮNG TRƯỞNG THÀNH CỦA CỘNG ĐỒNG TỊ NẠN VIỆT NAM
     Cộng đồng Người Việt trên thế giới nói chung và tại Hoa Kỳ nói riêng đă có những bước phát triển khá nhanh và đạt nhiều kết quả tương đối tốt. Đó là nhận xét của nhiều người trong cộng đồng cũng như ngoài cộng đồng chúng ta. Điều này đúng, tuy nhiên cộng đồng chúng ta cũng c̣n nhiều khuyết điểm cần sửa chữa.
     1. Sức mạnh và giá trị của cộng đồng
     Một cộng đồng sắc tộc có tầm cỡ về mặt dân số, mức độ khá về lợi tức, có gốc văn hóa sâu đậm và lâu đời, với hướng đi đúng đắn, th́ tự cộng đồng đó đă tạo cho ḿnh một giá trị và một sức mạnh cho sự sanh tồn và phát triển. Cộng đồng Việt Nam mường tượng có được như vậy. Ở xứ Hoa Kỳ này có nhiều cộng đồng phát triển rất tốt, như cộng đồng Do Thái, cộng đồng da trắng gốc Aâu Châu, cộng đồng người Hoa, ngưới Nhựt. Họ phát triển tương đốùi toàn diện. Bên cạnh cũng có những sắc tộc trưởng thành không toàn diện hay chậm chạp. Một cộng đồng đạt được sự phát triển toàn diện và có giá trị thật sự là khi nào đa sốù các thành viên có được niềm tin với nhau và niềm tin ở cộng đồng đó, ngoài ra nó c̣n được các cộng đồng khác mến phục hay đánh giá khá.
     Vậy cộng đồng Việt Nam sau 30 năm giờ ở mức độï nào? Chúng ta thử xem xét trên các mặt dân số, kinh tế, văn hóa, và chánh trị. Chúng ta đặt các mặt vừa nêu ra trong khung cảnh và mối tương quan: với cộng đồng, chúng ta là một chỗ dựa cần thiết, với cộng đồng lớn là xứ Hoa Kỳ nơi chúng ta đang sống, với quê hương Việt Nam, nơi chúng ta c̣n có bổn phận.
     2. Về mặt dân số
     Số người Việt là 1.122.528 theo thống kê năm 2000 (Census Bureau), nó là một trong các cộng đồng sắc tộc lớn. Con số thực sự có thể gần 1.300.000 người, v́ rằng có một số người mướn pḥng ở trọ không khai trong thống kê hay có nhiều người Việt gốc Hoa khai là người Hoa…trong các cộng đồng Á Châu th́ dân số người Việt là một trong 4 sắc tộc lớn nhứt và gần tương đương: Phi Luật Tân (2.734.841), Trung Hoa (1.148.932), Ấn Độ (2.364.815), Đại Hàn (1.898828), và Việt Nam. Trong đó người Việt đến sau nhứt nhưng lên nhanh nhứt. Trong gần 1.300.000 người có độ 75% thuộc diện tị nạn (gồm 800.000.000 vượt biên, 200.000 HO và gia đ́nh, 80.000 con lai và gia đ́nh), cộng thêm với 300.000 người thuộc diện di dân. Người Việt cư trú khắp nơi trên đất Mỹ nhưng tập trung khoảng 45% ở tại Cali. Nếu không có biến cố 1975 th́ giờ đây cả nước Mỹ có lẽ chỉ có vài ngàn người Việt Nam. Dân số to lớn này tự nó là một sức mạnh về nhiều mặt, nhứt là về khối lượng cử tri và khối lượng người tiêu thụ. Trong 30 năm qua có trên 100.000 trẻ em được sanh ra tại Hoa Kỳ. Dù có sức nặng về dân số, nhưng nếu căn bản phẩm chất của đa số thành viên cộng đồng đó kém th́ giá trị thực sự của nó không vươn lên một cách mạnh mẽ và đóng góp cho cộng đồng chung không tốt đẹp ngoài việc sanh cho nhiều, tiêu th́ nhiều nhưng chánh phủ trợ cấp cũng mệt. Một cộng đồng có giá trị là một cộng đồng phải lớn mạnh cả số lượng lẫn chất lượng. Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng cộng đồng chúng ta mới đạt mức độ chừng mực nào đó.
     3. Về đời sống kinh tế
     Ai cũng biết điều âu lo đầu tiên của người tị nạn là miếng cơm manh áo. Bởi lẽ hầu hết mọi người đến Mỹ với hai bàn tay trắng. Trong một môi trường xa la, việc làm lại cuộc đời không phải dễ dàng. Chúng ta ai cũng gặp khó khăn trở ngại ít nhứt trong vài năm đầu. Dần dần nhờ tánh cần cù và quyết tâm, chúng ta vượt qua được trở ngại. Cuộïc sống vật chất tạm ổn định, dĩ nhiên cũng có một số ít người không có được an cư lạc nghiệp v́ hoàn cảnh riêng của họ. Ước lượng sau trung b́nh 7 năm, có độ 50% người Việt có nhà riêng. Khối người Việt khá đông đảo mà gặp khó khăn nhiều nhứt về công việc làm là các anh em HO, v́ sức khỏe yếu kém do nhiều năm trong các trại tù cộng sản, tuổâi đời lại khá cao (trung b́nh 52 tuổi), các con của cựu tù cải tạo th́ phần lớn dang dở sự học khi c̣n ở quê nhà. Tôi có dịp gặp lại nhiều gia đ́nh HO khoảng 5 năm sau khi họ đến định cư, đều tương đối ổn, nghĩa là có việc làm, con cái có việc làm, một số con cái tốt nghiệp đại học, trong đó có số ít tốt nghiệp bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư. Mọi người đều cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ v́ giờ th́ họ có được cuộc sống b́nh an về vật chất lẫn tinh thần.
     Về lợi tức trung b́nh th́ nói chung người Việt kém hơn người Hoa, người Nhựt, Đại Hàn, Ấn Độ và Phi Luật Tân. Trung b́nh một gia đ́nh VN có 5 người, th́ hai người đi làm, lợi tức trung b́nh một gia đ́nh vào khoảng $50,000 / năm (theo thống kê chánh thức th́ ít hơn), để dành độ $5,000/ năm. C̣n $45,000 chi cho moi thứ kể cả nhà cửa. Số tiền chi khá to lớn của khoảng 300.000 gia đ́nh người Việt ở Mỹ là 13,5 tỷ mỹ kim/năm, trong đó gần 2 tỷ gởi vềâ VN từ Mỹ (tổng sản lượng của Việt Nam hiện nay chỉ có 36 tỷ mỹ kim).
     Khi đời sống gia đ́nh tương đối ổn định và một số có được tiết kiệm th́ nghĩ sang kinh doanh. Từ 1980 có nhiều cơ sở thương mại do người Việt hay người Việt gốc Hoa xuất hiện ở tại các nơi có người Việt từ 5.000 trở lên, nhiều nhứt là tại Cali. Số cơ sở thương mại phát triển khá nhanh tạo sự chú ư đối với doanh nhân cũng như dân chúng bên ngoài. Các cơ sở khá tập trung thoạt nh́n có vẻ vững vàng, một sốù siêu thị khá qui mô. Tuy nhiên, không phải cơ sở thương mại nào cũng thành công. Trong quá khứ đă có nhiều thương gia tiêu tan sự nghiệp. Cái khó khăn nhứt là thiếu vốn hay vay với lời cắt cổ, thị trường tiêu thụ bị giới hạn, không lan rộng ra những người tiêu thụ trong ḍng chánh trừ ngành nails, cách quản trị kinh doanh phần lớn c̣n tánh cách gia đ́nh, phong cách làm ăn c̣n tùy tiện. Các Pḥng thương mại cho người Việt cũng như các Hội đoàn nghề nghiệp chưa làm được những việc cầân phải làm (như luật lệ, tín dụng, thi trường). Nguyên do chánh là các nhà kinh doanh không biết hay không muốn kết hợp với nhau ở cấp địa phương, toàn quốc hay cả thế giới như nhiều sắc tộc khác đă làm đă tạo ra được hệ thống thương mại vững vàng.
     4. Về văn hóa – chánh trị
     Nhờ thừa kế được một nền văn hóa lâu đời và có căn bản khá tốt, ngừơi Việt sống ở đâu cũng duy tŕ và bảo vệ đươc một sốù lớn các giá trị văn hóa như nếp sống đại gia đ́nh, ngày Tết truyền thống, tập tục đám cưới, đám giỗ, đám tang…. Có điều đáng vui là cho tới bây giờ nhiều em của thế hệ thứ hai vẫn c̣n giữ được phần nào văn hóa dân tộc, một số em trẻ thực hiện được một số phim về Việt Nam, nhứt là các biến cố lịch sử. Đó là điều đáng khuyến khích. Chính truyền thống văn hóa đă âm thầm thúc đẩy con em chúng ta học hành giỏi, và đạt kết quả tốt trong giáo dục. Do đó công ăn việc làm tương đối vững vàng.
     Một điểm son trong công tác văn hóa gần như có khắp nơi và tự phát. Đó là các trung tâm Việt ngữ từ lâu và khá tốt. Báo chí, đài truyền h́nh, truyền thanh Việt ngữ rất phong phú là những đóng góp tốt cho cộng đồng. Nhưng trước hết và quan trọng hơn hết là chính các phụ huynh đóng góp trong việc giữ ǵn tiếng Việt và văn hóa dân tộc. Chắc chắn chúng ta phải biểu dương cố gắng của thế hệ thứ nhứt. Theo kinh nghiệm của nhiều sắc tộc đă định cư trước chúng ta rất lâu, thế hệ thứ hai có khá nhiều nhược điểm như là chịu đựng gian khổ, t́nh cảm gắn bó với cộng đồng không bằng thế hệ thứ nhứt, anh ngữ, học hành nghề nghiệp, văn hóa gốc th́ không c̣n nhớ nhiều, văn hóa mới th́ chưa bằng người Mỹ, cho nên một số lớn ở t́nh trạng lưng chừng. Các thế hệ thứ ba thứ tư th́ nghiêng về Mỹ nhiều, có khi 100% như các trẻ em Nhựt. Các trẻ em người Hoa dù ở đây rất lâu nhưng vẫn giữ được phần chánh văn hóa cổ truyền của họ. Mỗi sắc tộc có những ưu và khuyết điểm của nó. Chúng ta nên học hỏi có chọn lọc những cái hay của nhau và từ các cộng đồng bạn.
     Về phương diện chánh trị th́ có hai mặt trận phải cố gắng. Đóù là đấu tranh chánh trị để xây dựng tự do và dân chủ cho Việt Nam. Mặt trận thứ hai là tham gia tích cực trong sinh hoạt và guồng máy chánh trị của Mỹ. Hai mặt trận này có tính hỗ trợ cho nhau. Một điều vui mừng cho cộng đồng là sự thắng lợi về sự công nhận cờ vàng ba sọc đỏ ở cấp tiểu bang, county và thị xă tại nhiều nơi, phần chánh là do sức mạnh của phiếu bầu của cử tri người Việt ở các địa phương đó.
     Trên mặt trận đấu tranh chống cộng, các đoàn thể chánh trị cũng như quần chúng nói chung đă tỏ ra hữu hiệu. Một trong các khó khăn trong sanh hoạt này là kết hợp nhau có khi chưa tốt, và lửa đấùu tranh càng ngày có phần càng giảm sút. Nhưng có một điều chắc chắn là lập trường chống cộng không có ǵ lay chuyển được. Nó là vấn đề của đạo lư chớ không phải của thù hằn chánh trị. Đó là ư muốn chống lại cái xấu, cái ác, cái tai hại cho đất nước, chớ không phải xuất phát từ sự thù hằn, từ sự ganh tị.
     C̣n trên mặt tranh đấu để tạo cái thế mạnh cho cộng đồng trong vai tṛ dân cử hăy c̣n hơi chậm, c̣n ít, nhưng có nhiều cố gắng đáng khích lệ. So với các cộng đồng khác, các đoàn thể chánh trị của người Việt c̣n yếu ở mặt phối hợp hoạt động với đoàn thể chánh trị và chánh trị gia Hoa Kỳ.
     5. Người tị nạn và quê hương tạm dung
     Cộng đồng người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ mới đó mà 30 năm rồi. Có người đă ở 30 năm, có người chỉ mới vài năm. Có gia đ́nh có được trọn vẹn niềm vui, cũng có gia đ́nh ôm nỗi buồn sâu thẳm. Dù thế nào, chúng ta đều nhận đây là quê hương. Chúng ta có một cuộc đời mới khá hơn nhiều so với đời sống nếu c̣n kẹt lại ở Việt Nam. Chúng ta may mắn được tị nạn và sống trên một đất nước giàu mạnh và đầy đủ. Chúng ta xin cám ơn đất nước và dân chúng Hoa Kỳ, đặc biệt những gia đ́nh có con em đă hy sinh cho lư tưởng tự do. Chúng ta có khi hồi tưởng lại những ngày của tháng tư đen tối, không khỏi bực tức về quyết định củøa chánh quyền Hoa Kỳ lúc đó đưa tới sự mất miền Nam. B́nh tĩnh lại, chúng ta nghĩ cho cùng phải tựï trách ḿnh, không nên đổ lỗi cho đồng minh của ḿnh, nước nào cũng có những quyền lợi riêng, có khi trùng có khi không trùng với quyền lợi của chúng ta. Giờ thua rồi, ai cũng phải chịu trách nhiệm, kẻ ít người nhiều tùy vai tṛ lúc đó. Một bài học có thể có là: Không bao giờ phó thác hết cái vận mạng đất nước ḿnh cho đồng minh, dù là một đồng minh hùng mạnh nhứt.
     Trở lại chúng ta là người tị nạn, chánh phủ và nhân dân Hoa Kỳ đă giúp chúng ta rất nhiều. Chính v́ số người tị nạn Đông Dương đến quá đông vào năm 1979-1980 mà chánh phủ ban hành đạo luật cho người tị nạn 1980, một bộ luật cho người tị nạn đầy đủ nhứt so với từ trước. Lần đầu tiên Tổng Nha Định Cư Tị Nạn được thành lập (Office of Refugee Resettlement), và cũng lần đầu tiên các cơ quan thiện nguyện được chánh quyền cấp ngân khoản để phục vụ người tị nạn. Đến năm 1992 th́ các trợ giúp cho người tị nạn bị hạn chế lại. Đến năm 1996 luật mới về trợ cấp xă hội xiết thêm lần nữa, người tị nạn không c̣n kéo dài lănh welfare trong nhiều năm như trước kia. Những người tị nạn phải sớm tiến tới tự túc, tự lực.
     Trong những năm đầu, một phần dân chúng Mỹ cho rằng người tị nạn và di dân gây thêm tệ trạng xă hội, lấy công ăn việc làm của người Mỹ. Nhưng lần lần người Mỹ chánh thống họ hiểu người Việt cần cù, chăm chỉ trong việc làm, đóng thuế đầy đủ. Cả đời người tị nạn đi làm đóng thuế có thể gấp 10 lần số tiền trợ cấp mà họ nhận. Tuy nhiên, người Việt c̣n nhiều khuyết điểm trong mối tương quan vớùi người bản xứ, trong sự hội nhập với xă hội mới. Cần tạo thêm niềm tin, v́ có niềm tin là có tất cả.
     6. Cộng đồng người Việt và quê hương
     Bỏ nước, bỏ làng, bỏ những kỷ niệm trong hoàn cảnh đành phải rời xa, chúng ta không thể nào quên được quá khứ, mặc dù đă sống khá lâu nơi xứ lạ quê người. Chúng ta c̣n bổn phận đối với đất nước và dân tộc. Sự việc nhiều người gởi tiền vềà nuôi thân nhân, hay về thăm Việt Nam không có nghĩa là những người này chấp nhận chế độ cộng sản. Người cộng sản có lẽ cũng biết điều này, họ cứ ra chánh sách này nghị quyết nọ, coi Việt kiều là một thành phần dân tộc chớ không phải “kẻ phản quốc” nữa cũng chỉ v́ 3 tỷ mỹ kim hàng năm ở nước ngoài gởi về khơi khơi, và vài ba trăm triệu đầu tư vớ vẩn. Cố gắng của CSVN về thu hút chuyên viên và tiền đầu tư từ người Việt tị nạn coi như thất bại, trong 300.000 chuyên viên Việt Nam ở nước ngoài th́ có rất ít về, nhưng những người này về để làm việc cho các công ty ngoại quốc chớ không phảøi cho chánh phủ Việt Nam trong hoàn cảnh như hiện nay...
     Một số người cho rằng đă 30 năm rồi, thời gian đă làm biến đổi nhiều rồi, vết thương gần như lành rồi th́ nay nên quên quá khứ đi. Về phía CSVN, lâu lâu cũng tung chiêu “ḥa giải”. Quá khứ mỗi người Việt đều liên hệ ít nhiều quá khứ đau thương của dân tộc. Cái nhân sinh quan căn bản đều chỉ cho ta rằng muốn yên ổn trong tâm hồn th́ hăy cố quên nỗi sầu của quá khứ. Nhưng vấn đề không đơn giản. Chúng ta có thể quên một số điều của quá khứ, nhưng chúng ta cũng không thể quên được một số việc mà nó tạo ra cái thảm sầu của dân tộc. Người Việt tị nạn, theo tôi, đâu có ǵ mâu thuẫn với khối dân tộc. Chỉ có sự khác biệt với người CS mà thôi. Vấn đề chánh là phải đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết một cách thành thật. Song, ai cũng nghĩ người cộng sản không có thói quen làm được điều này. Sau 30 năm, người Việt tị nạn dường như đă học được nhiều loại bài học. Sau khi ngă bao giờ cũng b́nh tĩnh hơn.
     Người Việt tị nạn chúng ta trước kia đă phục vụ cho chánh nghĩa, cho lư tưởng tự do. Một số bạn, nếu trước kia c̣n trẻ quá, th́ ít nhứt căn bản cũng cảm thấy thế nào là nước có tự do dân chủ so với một xă hội như VN ngày nay. Chúng ta có thể xem 30 năm trước là vận nước. Chúng ta tiếp tục hướng cuộc đời theo minh đạo, theo con đường đúng, và chỉ có một con đường thôi, con đường yêu nước chơn chánh.
     California, Ngày 30 tháng 4 năm 2005
     Nguyễn Bá Lộc