Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


VIỆT NAM
VÀ CƠ QUAN MẬU DỊCH WTO

     Nhờ áp dụng một số nguyên tắc căn bản của nền kinh tế thị trường (từ 1986), Việt nam CS đă thoát qua t́nh trạng nguy kịch và đă gặt hái được một số kết quả về kinh tế, rồi từ đà đó lại muốn vươn rộng ra trên b́nh diện kinh tế toàn cầu, VN chủ trương giao thương với mọi quốc gia. VN cảm thấy rất khích lệ v́ xuất cảng tăng từ 5 tỷ 449 mỹ kim năm 1995 lên 26 tỷ 003 năm 2004 (theo niên giám thống kê Bộ Thương Mại VN). Việt Nam đă kư hiệp ước thương mại song phương với Hoa Kỳ và Singapore và kư đa phương với các nước ASEAN (hiệp ước AFTA) nhằm gia tăng xuất cảng và đầu tư ngoại quốc. Trong đó cơ quan mậu dịch đa phương quan trọng nhứt là WTO (World Trade Organization), tức cơ quan Mậu Dịch Thế Giới. Việt nam đang tích cực vận động và cố gắng điều chỉnh hoặc làm luật lệ mới cũng như cải tổ một số mặt của cơ cấu kinh tế để được chấp thuận là thành viên của cơ quan WTO trong khóa họp kỳ 10 vào cuối năm nay tại Hong Kong. Trong chuyến viếng thăm Hoa kỳ trong tháng qua, một trong những vấn đề nổi mà Thủ tướng Phan Văn Khải chánh thức xin Tổng Thống Hoa Kỳ đồng ư là việc cho Việt Nam vào WTO và được sự thỏa thuận của TT Bush.
     Dù mới có 10 năm, nhưng WTO hiện là tổ chức quốc tế quan trọng với nhiều kết quả tốt cho nhiều quốc gia hội viên, hiện nay WTO có tới 148 quốc gia hội viên, mặc dù nó cũng bị nhiều chỉ trích từ các quốc gia nghèo và từ các tổ chức lao động, nhân quyền. Thông thường, một quốc gia khi vào được WTO th́ xuất cảng tăng nhanh hơn, đầu tư ngoại quốc nhiều hơn, đời sống dân chúng khá hơn. Hiện nay 90% khối lượng hàng hóa và dịch vụ trên toàn cầu là thuộc các thành viên WTO. Thấy những thành công của các thành viên WTO, nhứt là Trung quốc mới vào chỉ được vài năm mà nền ngoại thương tiến khá nhanh, làm VN quyết tâm hơn để theo đuổi đi đến với WTO. Tuy nhiên, con đường vào WTO của VN có nhiều khó khăn hơn nhiều nước là v́ các luật lệ, nguyên tắc làm việc của WTO là hoàn toàn theo sanh hoạt của nền kinh tế tự do mà VNCS vừa là một nước chậm tiến vừa theo chế độ cộng sản, căn bản luật lệ không giống nền kinh tế thị trường có những luật lệ yêu cầu mà từ trước tới nay VN chưa bao giờ có, chưa bao giờ biết, chỉ có mấy năm gần đây mới có sửa đổi được một phần. Vào được WTO không khó lắm, WTO luôn mở rộng cửa. Vấn đề là vào đó rồi có hiểu và có tuân theo luật lệ chung không, khung cảnh và hệ thống kinh tế “nửa nạc nửa mỡ“ trong một xă hội đầy rẫy tiêu cực không là cái ǵ êm ái cho các nhà đầu tư ngoại quốc; hàng hóa th́ dưới tiêu chuẩn trung b́nh th́ phần lớn bị loại khi bước vào cạnh tranh trên thị trường tự do hay tiêu chuẩn vệ sinh không bảo đảm. Như gần đây, nhiều loại tôm cá từ VN bị Hoa Kỳ cấm nhập cảng. Trong hai năm qua, phần lớn các nước thành viên cũng như Ủy ban cứu xét hồ sơ gần như muốn cho VN vào với điều kiện sửa đổi nhiều thứ luật lệ cho phù hợp với tổ chức.
     Như nhận xét của ông Jonathan Pincus, một Senior Economist của cơ quan Phát triển của Liên Hiệp quốc tại VN đại khái như sau: các nước giàu th́ được nhiều hơn các nước nghèo, nhưng vào WTO vẫn tốt hơn là không vào. VN ở cái thế phải vào dù biết rằng sẽ có nhiều rắc rối. Muốn được thêm hàng tỷ mỹ kim th́ VN phải chấp nhận mất mát cái ǵ đó. Mất dần dần từ cái nhỏ tới cái lớn do việc đổi dần từ cái nọ sang cái kia.
     Sau đây chúng tôi xin tŕnh bày tóm lược tổ chức WTO và các thuận lợi và khó khăn cho Việt nam.
     1. Khái lược về tổ chức WTO
     WTO là cơ quan quốc tế mà thành viên là các quốc gia tự nguyện xin gia nhập. Cơ quan này được thành lập năm 1995, nó là hậu thân của cơ quan quan thuế quốc tế có tên GATT (General Agreement Tariff & Trade ), được thành lập từ 1948.
     Mục tiêu và chủ trương của WTO là giúp các thành viên phát triển kinh tế, cải tiến đời sống dân chúng qua nền mậu dịch tự do, bỏ dần các loại hàng rào ngăn cản mậu dịch; đồng thời giúp đẩy mạnh nền kinh tế toàn cầu, cùng qui định nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ sản phẩm trí tuệ. Ngoài ra, WTO c̣n giúp giải quyết một số tranh chấp thương mại giữa các thành viên trong nền thương mại quốc tế càng ngày càng lớn mạnh.
     • Các điều lợi của WTO là :
     - Phát triển tinh thần hoà b́nh (Promote peace) theo phương châm “mậu dịch tốt đem lại ḥa b́nh”, tức là tránh bớt tranh giành thị trường.
     - Cung cấp cơ quan giải quyết các tranh chấp mậu dịch.
     - Đặt ra các nguyên tắc chung trong việc vận hành nền kinh tế thế giới trong sự đồng thuận.
     - Cải tiến đời sống của các nước thành viên nhờ hàng hóa rẻ hơn, kinh tế phát triển hơn.
     - Có nhiều cơ hội chọn lựa trong tiêu thụ v́ có nhiều mặt hàng hơn, đa dạng hơn.
     - Tạo nhiều công ăn việc làm hơn.
     Hiện nay (đến 2004), WTO có 148 thành viên chánh thức và khoảng 30 quốc gia là quan sát viên trong đó có VN. Trong 10 năm qua, có 32 nước nghèo và kém mở mang (Least- developed countries) được chấp nhận vào WTO, có nước c̣n tệ hơn, kém hơn VNCS như Cambodia, Rwanda. Trung quốc cũng mới được vào chưa lâu (12/2001). VN đă nộp đơn xin gia nhập từ 1995 và đă làm mọi cách để đươc gia nhập. VN hy vọng ở kỳ họp đại hội đồng WTO vào tháng 12 năm nay. Tuy nhiên, tin giờ chót (25 tháng 8-05, theo tin báo Người Việt, Orange County) th́ Thứ trưởng Thương Mại VN nói là khó trở thành thành viên WTO vào tháng 12 năm nay.
     WTO ra đời trong hướng toàn cầu hóa (Globalization) trong sự lớn mạnh của các công ty đa quốc. Về phương diện kinh tế, có thể chia ra làm hai nhóm quốc gia. Nhóm giàu hay c̣n gọi là “nhóm phương Bắc” và nhóm nghèo hay c̣n gọi là “nhóm phương Nam”. Nhóm nghèo lại đông dân, có nhu cầu lớn về tiêu thụ nhưng không có tiền. Hàng kỹ nghệ th́ quá kém, khôïng cạnh tranh nổi, phần lớn xuất cảng nông sản và nguyên liệu, nông sản lạị thường không có giá. Trong ṿng 20 năm nay, kinh tế thế giới phát triển tương đối tốt, theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới, th́ trung b́nh trong 5 năm qua kinh tế thế giới tăng 6% mỗi năm. Mậu dịch bành trướng rất mạnh và c̣n lớn mạnh nữa. Một cơ quan như WTO có vai tṛ điều hợp và giải quyết một số tranh chấp trong mậu dịch là rất cần thiết.
     • Về tổ chức WTO có cơ cấu như sau: Đại hội đồng các Bộ trưởng (Ministerial Conference), Ban quản trị (General Council), có 3 tiểu ban: Good Council, Services Council, Intellectual Property Council, và Ban điều hành (Secretariat) đứng đầu là Tổng giám đốc.
     Muốn trở thành hội viên của WTO th́ phải nộp đơn và phải qua quá tŕnh cứu xét kỹ lưỡng để xem thành viên này có thể tuân thủ các điều lệ, qui định của WTO hay không. Mặt khác, các nước yếu kém, theo khuynh hướng cũ, th́ phần lớn chủ trương bảo vệ mậu dịch, tức là có thuế quan cao. Sanh hoạt thương mại quốc tế cần có sự thay đổi mạnh mẽ. Nhưng cũng có nhiều rắc rối, nhiều mâu thuẫn quyền lợi giữa các thành viên. Có biết bao nhiêu chuyện xảy ra trên thương trường quốc tế. Nền mậu dịch thế giới gia tăng hơn trước nhiều. Mặc dù tổ chức này c̣n nhiều khuyết điểm và sẽ phải điều chỉnh cho thích nghi với thực tế. Những chống đối thường nêu lên là các nước giàu v́ có nhiều tiền và thế chánh trị quốc tế mạnh (Hoa kỳ, Cộng đồng Aâu Châu, Nhựt Bản) nên các nước nghèo luôn ở thế yếu khi thương lượng. Những chống đối WTO thường liên quan đến vấn đề nhân quyền, nông dân các nước nghèo, công nhân bị thất nghiệp, vấn đề môi sinh…Những thỏa ước của WTO rất nhiều và phức tạp. Đại cương có những nguyên tắc chánh sau đây:
     - Không có kỳ thị trong mậu dịch (Trade without discrimination):
Quốc gia thành viên phải đối xử b́nh đẳng, nghĩa là nếu cho một quốc gia này được qui chế tối huệ quốc (Most-favoureded-nation, MFN) th́ phải cho quốc gia kia tối huệ quốc cho mọi quốc gia thành viên. Qui chế MFN là nhận cho sự ưu đăi thuế quan thấp (ngày nay gọi là qui chế b́nh thường).
     - Giảm hạ quan thuế : Các thành viên phải đồng ư giảm lần quan thuế biểu (Freer trade). Hiện nay quan thuế biểu cho kỹ nghệ phẩm chỉ c̣n 4% và có thể tiến lần đến 0%, và nông sản tiến dần đến mức 0%, từ từ hạ xuốngï chứ không phải một lần, qua sự thương lượng trước. Các nước đang phát triển th́ thời gian hạ giảm sẽ kéo dài hơn.
     - Có dự đoán & ổn cố : (Predictability & stability) Bằng thương ước, các quốc gia thành viên phải cho biết trước kế hoạch và sự ổn định kinh tế và sự minh bạch (transparency) trong sanh hoạt kinh tế, nhứt là ngân sách. Các quốc gia thành viên cần phải chứng minh lợi tức quốc gia, sự chi thu ngân sách. Các thành viên cũng phải dần dần bỏ những luật lệ có tính cách kiểm soát quá chặt chẽ hay hàng rào ngăn cấm.
     - Cạnh tranh công bằng (Fair competition). WTO là định chế hướng đến tự do mậu dịch, tức là phải chấp nhận sự cạnh tranh đứng đắn, công bằng giữa tư doanh và quốc doanh, giữa công ty trong nước và ngoại quốc. Cấm sự cạnh tranh bất chánh như phá giá (dumping), tức bán dưới giá thành để tranh thị trường. Trong trường hợp này, nước nhập cảng có thể đánh thêm thuế quan để bảo vệ hàng trong nước.
     - Bỏ sự trợ cấp xuất cảng (Subsidies): Nguyên tắc khác của WTO là bỏ trợ cấp xuất cảng, áp dụng cho nông sản hàng kỹơ nghệ và sản phẩm trí tuệ.
     - Công bằng đối xử (National treatment): Chánh quyền phải có sự công bằng giữa công ty nội địa và công ty ngoại quốc.
     Trên đây là các nguyên tắc căn bản của WTO. Tuy nhiên, nó có điều lệ linh động, nhứt là áp dụng cho các nước đang phát triển được cho tháo gỡ rào quan thuế từ từ. WTO có mối liên hệ và phối hợp với các cơ quan quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, cũng như các cơ quan trọng tài kinh tế quốc tế.
     2. Những khó khăn và thuận lợi của Việt Nam
     Việt Nam xin gia nhập WTO từ năm 1995, tức là từ lúc WTO mới thành lập, và sẽ được đem ra biểu quyết vào tháng 12/ 2005. Có nhiều nước đă nộp đơn cùng lúc với VN, nhưng các nước đó đă lần lượt được chấp thuận. Trung Quốc được chấp thuận tháng 12/ 2001 và Cambodia được gia nhập năm qua. Sau khi thấy Trung Quốc được là thành viên, VNCS rất sốt ruột, bởi v́ nếu chưa vào được VN sẽ bị nhiều thiệt tḥi, v́ hiện nay đa số tuyệt đối khối lượng mậu dịch trên thế giới nằm trong tay các thành viên của WTO, và v́ Trung Quốc là một trong các nước có kinh tế mạnh hiện nay sẽ áp đảo và chiếm thị trường hiện tại của VN. VN quyết tâm vào cho được.
     Những cái lợi và bất lợi của VN khi gia nhập WTO:
     A. Những thuận lợi
     - Nền kinh tế VN có thêm cơ hội phát triển mạnh hơn. Nhờ gia tăng xuất cảng và gia tăng đầu tư ngoại quốc. Điều này rơ ràng đối với các nước đă gia nhập WTO. Đầu tư tăng th́ lợi tức quốc gia tăng. Xuất cảng tăng th́ ngoaị tệ thu về tăng, nhập cảng nhiều hơn, nếu mua máy móc và nguyên liệu nhiều sẽ phát triển tốt hơn. Đó là nguyên tắc thông thường. Việt nam cũng sẽ nhận được cái lợi này. Nhưng trong điều kiện chánh trị kinh tế hiện nay, VN sẽ không nhận được nhiều như các nước thành viên không cộng sản. V́ rằng hàng hóa của VN phần lớn có phẩm chất kém, c̣n về đầu tư ngoại quốc c̣n nhiều trở ngại mà trở ngại chánh là môi trường đầu tư, hệ thống hành chánh bê bối, không có công lư trong ngành tư pháp.
     - VN sẽ có điều kiện phát triển cái chủ trương hiện tại là gia nhập vào toàn cầu hóa. Với tư cách thành viên của WTO, VN được xem b́nh đẳng trong “sân chơi” này. VN có diäp học hỏi nhiều điều mà VN chưa bao giờ biết hoặc biết rất ít trước kia, sửa đổi luật lệ cho thích hợp. WTO có chương tŕnh huấn luyện cho các thành viên là các nước đang phát triển (technical assistance program).
     - Bởi lẽ nền kinh tế toàn cầu là nền kinh tế tự do hay kinh tế thị trường. Khi vào WTO, VN sẽ hưởng được quy chế tối huệ quốc với mọi quốc gia, tức thuế quan của các nước nhập hàng từ VN sẽ giảm đi nhiều, từ trung b́nh 40% c̣n 4%, và một loại thuế quan ưu đăi cho công nghệ phẩm mà các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển mà không đ̣i điều kiện có qua có lại. Do đó VN sẽ bán dược nhiều hàng hơn.
     - VN hy vọng sẽ có số đầu tư ngoại quốc gia tăng, nhờ cải tổ thêm luật lệ, chấn chỉnh môi trường đầu tư, cho phép đầu tư vào dịch vụ quan trọng như viễn thông, ngân hàng, chứng khoán, hay b́nh đẳng trong các vụ đấu thầu quan trọng của chánh phủ như dầu khí, phi cảng, phi trường, xa lộ. Đó là các món bở của đầu tư ngoại quốc.
     - VN sẽ có cơ hội làm việc dễ dàng hơn với các cơ quan quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân Hàng Á Châu v́ các cơ quan này có liên hệ chặt chẽ với WTO.
     - Nếu có tranh chấp thương mại, vấn đề sẽ được giải quyết qua cơ quan quốc tế chứù không phải cách giải quyết song phương như khi không phải là thành viên. Nhờ cơ quan đa phương giải quyết vẫn tốt hơn cách qua song phương như vụ cá basa và tôm giữa VN và Mỹ trong năm qua mà VN đều thua kiện.
     - Qua các cuộc vận động trong hai năm qua với các đối tác của VN, cũng như qua sự làm việc giữa ban công tác của WTO và phái đoàn VN th́ các thành viên chấp nhận VN, chỉ lấn cấn về luật lệ và kỹ thuật.
     B. Những khó khăn:
     VN sẽ gặp rất nhiều khó khăn hơn các quốc gia có căn bản thực sự là nền kinh tế thị trường.
     Những khó khăn có thể tóm tắt:
     - Khung cảnh chánh trị độc tài và thể chế Xă hội chủ nghĩa là một cản trở lớn cho phát triển kinh tế có tầm cỡ và dài hạn, ít nhứt trong các lănh vực như công tác làm luật, v́ không có dân chủ, không có sự tham gia rộng răi của doanh nhân như các nước tư bản, luật lệ không phản ánh thực trạng xă hội, về sự bao cấp của chánh quyền, sự tŕ trệ kéo dài của khu vực quốc doanh; về nguyên tắc bí mật của đảng và nhà nước trong việc sử dụng công quỹ; về sự hiện hữu hai guồng máy điều hành quốc gia cùng một lúc và chồng chéo thẩm quyền giữa đảng và nhà nước cộng sản.
     - Bản chất của nền “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” là một nền kinh tế đầy mâu thuẫn, chỉ có một nửa theo kỹ thuật và nguyên tắc kinh tế tự do cuả WTO, c̣n nửa kia vẫn c̣n giữ phương cách kinh tế XHCN, hoạch định chỉ huy thiếu mềm dẻo và thiếu sót, nghĩa là vừa tạo điều kiện cho tư doanh và doanh nghiệp quốc tế đầu tư lại vừa giữ quốc doanh là chủ đaọ (hiện quốc doanh chiếm 60% tín dụng chuyên viên nhưng chỉ đóng góp có 30% của tổng sản lượng quốc dân), lại thêm chương tŕnh bành trướng hệ thống kinh tài bí mật của đảng. Điều này làm cho các nhà xuất nhập cảng ngọai quốc khó hiểu và khó chịu. Theo các cơ quan quốc tế như Heritage Foudation & Wall Street Journal, World Bank, cũng như nhận xét của phái đoàn Bộ thương mại Hoa kỳ khi điều tra về sự phá giá cá tôm của VN, cho rằng VN chưa phải là nền kinh tế tự do (v́ chánh quyền can thiệp quá nhiều vào sanh hoạt kinh tế).
     - Chương tŕnh cải tổ giảm bớt quốc doanh theo yêu cầu của các cơ quan quốc tế th́ thực hiện quá chậm chạp và thất bại v́ đảng viên không muốn buông lợi lộc to lớn của ḿnh trong các xí nghiệp đó. Công ty ngoại quốc th́ muốn nhào vô đầu tư trong ngành viễn thông, điện thoại, dầu khí, ngân hàng, th́ đụng tới quốc doanh hay công ty kinh tài của đảng dội ra. Chánh quyền dùng tiền ngân sách (tức tiền cuả dân) dựng lên và trợ cấp bừa băi cho quốc doanh, lại thiếu công bằng với tư doanh làm chủ tư doanh nản ḷng. Trên giấy tờ nghị quyết th́ nói là dẹp bớt quốc doanh, nhưng thực tế th́ không ai muốn đụng tới, v́ đó là nơi đảng viên lấy tiền của dân (và của quốc tế) một cách công khai và hợp pháp. Sự đối xử thiếu công bằng giữa quốc doanh và tư doanh là sai nguyên tắc WTO. Vào WTO, VN phải cho các công ty ngoại quốc xâm nhập các món béo bở trên.
     - Hệ thống luật lệ VN rất yếu kém, nhứt là luật cần thiết cho mậu dịch quốc tế. V́ từ trước đến nay chưa có, dù mấy năm qua có một số sửa đổi nhưng c̣n rất thiếu, chính v́ vậy mà các yêu cầu WTO, phía bên VN cho tới nay chưa thỏa măn đủ. Ví dụ trong các vụ thuộc ngân hàng th́ theo luật dân sự hay h́nh sự nhưng theo WTO th́ theo luật thương mại.v.v...
     - Nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn thuận lợi. V́ cạnh tranh tự do, giá nông sản vốn đă thấp, nay có thể sẽ thấp hơn, một số loại nông sản của một số nước có nền kinh tế mạnh sẽ tràn vào. Nông dân vốn đă có mức thu nhập rất thấp (chưa đầy 100 mỹ kim/ năm/ người, giá nông sản bán ra nhiều khi không bù lại được giá thành. T́nh trạng sẽ bi đát hơn nếu chánh phủ thiếu những biện pháp hũu hiệu. Đời sống nông thôn hiện nay với 80% dân sống ở đó, sau 30 năm hết chiến tranh, nhưng rất là bi đát. Thất nghiệp tràn lan, không có cách giải quyết. Vào WTO hay nói tổng quát khi thực thi bất cứ chánh sách kinh tế nào VN cần phải nghĩ đến thành phần này.
     - Chấp hành hiệp ước bảo vệ tác quyền của sản phẩm trí tuệ, nhứt là việc chống lại các việc sao chép CD, băng, video lấy từ bên ngoài một cách bất hợp pháp là điều rất cấm kỵ của WTO, là điều rất khó giải quyết đối với VN.
     - Bộ máy hành chánh vừa cũ kỹ vừa cồng kềnh, luật lệ rắc rối, cán bộ viên chức vừa dốt vừa tham nhũng là một cản trở, nản ḷng cho các nhà đầu tư và nhà xuất nhập cảng ngoại quốc.
     - Tính không minh bạch trong kế toán và nguyên tắc bí mật trong thống kê khó đi tới những thỏa ước hay cam kết quốc tế công minh và to lớn. Cũng như những dối gạt và thiếu thật thà làm cho nhiều đối tác nản chí.
     - Sự đáp ứng đ̣i hỏi của văn pḥng WTO không hoàn thành đúng mức và đúng ngày giờ. Theo tin từ VN, Quốc hội phải làm việc cật lực để hoàn thành ít nhứt 20 bộ luật trước tháng 9 năm nay để nộp cho văn pḥng WTO. Nhiều luật đă làm, nhưng phải sửa đi sửa lại là v́ cách làm luật thiếu dân chủ và người làm luật thiếu kinh nghiệm.
     - Sức cạnh tranh của VN trên trường quốc tế rất yếu kém: Mặc dù có tiến triển, nhưng so với các nước xung quanh, VN c̣n kém xa trong việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng như bành trướng thị trường quốc tế. Ví dụ năm 2001, VN nhận được đầu tư từ Nhậït chỉ bằng 1/33 của Trung Quốc, 1/12 của Thái Lan, 1/5 của Indonesia.
     Về xuất cảng th́ hàng hóa của VN có phẩm chất kém, tiêu chuẩn vệ sinh kém nên rất khó cạnh tranh với nhiều nước, trong lúc đó hàng nhập sẽ vào nhiều hơn, thâm thủng mậu dịch sẽ tăng cao nữa (năm qua đă lên trên 6 tỷ mỹ kim rồi). Theo đánh giá của Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới th́ năng lực cạnh tranh của VN có hạng rất thấp, 60/102 (2003) và 77/104 (2004).
     - Cho tới nay, sau mấy năm làm việc với WTO, nhưng dân chúng nhứt là tư doanh VN chưa biết ǵ về WTO, nếu được vào th́ làm ăn với các nước sẽ ra sao. Kiểu làm của CSVN là làm tới đâu học tới đó, không cần cho dân biết trước hay chuẩn bị trước.
     VNCS hiện nay đang ở thế phải cương quyết vào WTO. Vào có cái lợi không lớn nhưng không vào th́ thiệt tḥi lớn hơn. Khi vào th́ phải chấp nhận một số mất mát, một số đau thương như phải cải sửa mạnh hơn theo chiều hướng kinh tế tư bản, khu vực quốc doanh sẽ teo lại, đảng CS sẽ chuyển qua những dạng kinh tài khác như công ty tư nhân, …miễn sao đảng CS vẫn ngự trị lâu dài và đảng viên có cơ hội hốt tiền của dân càng nhiều càng tốt.
     Theo t́nh h́nh, cho tới giờ th́ VN sẽ được vào WTO, v́ qua các báo cáo của “Ban công tác” của WTO (Working Party Commission) trong hai năm qua th́ VN có xúc tiến đáng khuyết khích nhưng c̣n phải bổ sung nhiều yêu cầu của WTO, VN cũng đươc sự chấp thuận của các đối tác lớn như Hoa kỳ, Cộng đồng Aâu châu, Nhựt bản, Trung quốc. Chỉ có một điều là liệu tháng 12 năm nay VN có nộp đủ giấy tờ theo yêu cầu của WTO hay không, nếu không xong th́ chờ năm tới. Theo tin mới nhứt nói trên, ông Lương văn Tự, Thứ trưởng Bộ Thương Mại vừa là trưởng phái đoàn VN về WTO th́ cho rằng tháng 12 này không kịp (theo tin Express Việt Nam). Theo bản tin này cũng có nói thêm là tin trên “gây không ít ngạc nhiên cho các đại biểu quốc hội”. Đối với những người có hiểu biết về hệ thống luật pháp của VN th́ không có ǵ ngạc nhiên trong trường hợp này. Chỉ có các ông dân biểu th́ không biết ǵ về WTO, và làm sao để được nhận vào. Như vậy th́ phải chờ đến năm tới. Đối với nhiều nước th́ đường vào WTO không khó khăn, nhưng vào chơi chung rồi th́ phải tuân theo luật lệ chung và quan trọng là làm sao giữ cho quốc gia ḿnh tiến bộ trong cái phồn vinh chung đó. Tuyệt đại đa số các nước đă vào rồi. Nước kém mở mang vào càng đông th́ các nước phát triển càng nhiều lợi. Dù ở trong hoàn cảnh nào th́ cũng phải xin vào, vào có lợi hơn là không vào. Nhưng đối với VN, không phải chỉ có lợi về kinh tế, mà VN c̣n phải chịu những cải sửa khung cảnh xă hội, đổi thay luật lệ, guồng máy chánh quyền diễn biến đó có thể đụng tới việc “đổi mới tư duy”, có thể phá bỏ một phần cái đầu óc chậm tiến. Chúng ta có thể nghĩ đến ít nhiều biến dạng sẽ đến với VN khi vào WTO, vào các tổ chức quốc tế khác, hay nói khác đi khi thực sự hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới.
     Nguyễn Bá Lộc
   
Cali 20 tháng 8 năm 2005