Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


VIỆT NAM - MỘT NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN?

     Kể từ sau Thế Chiến thứ 2, các quốc gia kém phát triển đều thống nhất quan điểm: muốn thoát khỏi nghèo khó lạc hậu, vấn đề ưu tiên hàng đầu là phải kỹ nghệ hóa đất nước. Chính NEHRU (Thủ tướng Ấn Độ) từ năm 1953 đă xác định trước đại diện của các quốc gia Á Phi: sự tiến bộ của đất nước tùy thuộc vào kỷ nghệ hóa. V́ kỹ nghệ hóa sẽ giải quyết được vấn đề khiếm dụng nhân công, tăng trưởng lợi tức quốc gia, tận dụng tài nguyên thiên nhiên và cuối cùng là cải tiến nhiều mặt xă hội, tạo được sự thay đổi căn bản cho đời sống dân chúng.
     Nền kỹ nghệ của một quốc gia luôn luôn liên hệ đến bốn lănh vực: Chính sách kinh tế, nhân công, tài chánh và kỹ thuật, trong đó sách lược kinh tế, tư bản đầu tư và kỹ thuật khoa học là ba yếu tố quyết định sự thành công cuộc kỹ nghệ hoá.
     Đa số các quốc gia đang phát triển đều thiếu vốn và khả năng kỹ thuật, chính v́ thiếu hụt tư bản đầu tư nên tŕnh độ kỹ thuật luôn luôn lạc hậu và thường phải gánh chịu những máy móc thiết bị cùng cách thức sản xuất lỗi thời do các quốc gia phát triển chuyển nhượng, đây một phần cũng v́ khiếm khuyết chuyên môn nên giới chức trách nhiệm của nước đang phát triển không đủ tŕnh độ để thẩm định các dự án đầu tư, hoặc do lợi lộc riêng tư nên sự kiểm soát các dự án bị lệch lạc.
     Hiển nhiên chiều hướng phát triển kỹ nghệ không thể khác hẳn với đặc tính của nền kinh tế quốc gia. Ví dụ một nước mà truyền thống là nông lâm nghiệp th́ không thể xây dựng một sách lược phát triển kỹ nghệ đặt trên nền tảng công nghiệp nặng hoặc một quốc gia có nhiều dầu mỏ lại chuyên phát triển kỹ nghệ thực phẩm.
     Bởi vậy, cấp thẩm quyền cần phải cân nhắc kỹ lưỡng khi định hướng phát triển kỹ nghệ. Một khi nền tảng phát triển kỹ nghệ đặt sai hay quá ôm đồm (ngành nào cũng muốn phát triển) không những tài lực quốc gia bị phí phạm mà nền kinh tế đất nước sẽ khó ḷng cất cánh nổi.
     Chính sách kỹ nghệ hoá của các quốc gia đang phát triển thường kém hiệu quả v́ một số nguyên nhân:
     - Các dự án quy mô có tính cách dẫn hướng cho toàn bộ công cuộc phát triển kỹ nghệ đă được xây dựng từ cảm hứng của các nhà lănh đạo chính trị, các vị này trong một phút bốc đồng hoặc được vun đắp từ những mơ mộng thuở niên thiếu đă đề ra nhiều dự án kỹ nghệ hoàn toàn phi kinh tế, không có lợi cho phát triển quốc gia, hao phí nhiều tài nguyên tiền bạc, kết quả sử dụng thu lợi không là bao, đó là chưa kể sự thiệt hại do dự án thiếu chính xác mang lại. Chẳng hạn cho xây những nhà máy sản xuất kiên cố mà giá trị của ṭa nhà đắt gấp bốn lần thiết bị bên trong hay lập một nhà máy thủy điện với lượng điện thu được hàng năm không thể sử dụng hết trong khi hàng chục ngàn mẫu ruộng ở hạ lưu mất hẳn lớp phù sa được bồi đắp hàng năm bởi con sông, hoặc cho xây dựng nhà máy phát điện chạy bằng nguyên tử năng trong lúc đa số dân chúng đang bị thiếu dinh dưỡng trầm trọng.
     - Khi nghĩ đến phát triển kỹ nghệ, đa số giới chức cầm quyền của các quốc gia đang phát triển thường quên mất lực lượng kỹ nghệ gia trong nước. Dù không có nhiều vốn, dù chưa tiếp thu những lănh vực kỹ nghệ chuyên môn cao nhưng đây là lực lượng ṇng cốt cho vấn đề phát triển kỹ nghệ đất nước. Các doanh thương, kỹ nghệ gia ngoại quốc có đủ mọi yếu tố vượt trội đối với các kỹ nghệ gia bản xứ, nhưng công cuộc đầu tư của họ hoàn toàn đặt trên căn bản lợi nhuận. Thực tế đă cho thấy có nhiều quốc gia quá tin tưởng vào đầu tư của ngoại quốc nên đă vô t́nh hay hữu ư hạn chế phần nào hoạt động kinh doanh của các doanh nhân bản xứ (bằng thủ tục cấp giấy phép, thuế biểu, đặt điều kiện quá cao về vốn và kỹ thuật. . .); hoặc về lâu dài kỹ nghệ sản xuất của các dự án ngoại quốc này đă làm con đường phát triển kinh tế của quốc gia bị lệch, không đáp ứng được yêu cầu như đă tiên liệu.
     - Một quan niệm lâu nay đă làm đắn do nhiều người là vấn đề kỹ nghệ hóa một đất nước đang phát triển phải đặt chủ yếu vào vai tṛ của doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân.
     Trên căn bản lư thuyết kinh tế cũng như thực tế chứng minh đối với một số quốc gia giàu mạnh từ đống tro tàn sau chiến tranh, vai tṛ chủ động trực tiếp kinh doanh sản xuất của chính quyền chỉ nên được chấp nhận ở thời gian đầu trong công cuộc kỹ nghệ hóa, sau đó dần dần nên nhường lại cho tư nhân (tập đoàn, tổng công ty, hiệp hội. . . ) và trở về cương vị quản lư quy mô trên căn bản sách lược kinh tế đă được hướng định bằng các phương tiện công quyền như thuế quan, chính sách xuất nhập cảng, thẩm định giấy phép đầu tư xây dựng công tŕnh, biện pháp điều hành thị trường nội địa, chính sách giá cả. . .
     Để giải thích quan niệm này, các kinh tế gia cho rằng, trong lănh vực kinh doanh sản xuất, công chức không thể nào năng động, nhanh nhạy bằng tư nhân. V́ vậy chỉ nên để lănh vực công quản trị, một số ngành được xem là tuyệt đối quan trọng liên quan đến an ninh quốc pḥng, bí mật quốc gia hoặc v́ giới tư nhân chưa đủ tŕnh độ và khả năng để đảm nhiệm (sự xác định này cần phải khách quan và đặt trên căn bản lợi ích chung).
     Ngoài ra sự kiện cũng đă minh chứng một nền kinh tế chỉ thực sự linh động phát triển khi giới kinh thương tư nhân được "thoải mái" trong vấn đề kinh doanh và đầu tư ở nhiều lănh vực với sự giúp đỡ, yểm trợ của chính quyền trong bước đầu.
     Để các dự án kỹ nghệ có thể thực hiện và thành công nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhà đầu tư và giới chức thẩm quyền cần lưu ư một số điểm:
     - Nghiên cứu thị trường nhập cảng: Xác định được mức cầu của thị trường nội địa và một số quốc gia lân cận là đă xác định được mục tiêu của dự án kỹ nghệ và lănh vực kinh doanh. Xa hơn, việc t́m hiểu lănh vực sản xuất hàng giả cũng là yếu tố cần để quyết định xây dựng kỹ nghệ thuộc ngành nào, loại nào (vấn đề nghiên cứu hàng giả là một mặt trong việc nghiên cứu thị trường).
     - Điều tra sức cung của nguyên liệu nội địa: Đây là yếu tố chính để hạ giá thành và chủ động để sản xuất liên tục, không bị vấn đề nguyên liệu làm gián đoạn.
     - T́m hiểu khả năng quản trị của cấp điều hành và tŕnh độ tay nghề của nhân công cùng thực lực của các ngành kỹ nghệ có liên quan. Điều này giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị để nhà máy sớm vận hành và liên tục hoạt động.
     - Luôn luôn theo sát và thay đổi kỹ thuật thích nghi: Để gia tăng năng suất, cải tiến sản phẩm hoặc để thay đổi nguyên liệu thích ứng.
     - Từng giai đoạn nắm vững cách hoạt động hoặc chiến lược kinh tế của quốc gia để tiến hành kinh doanh sản xuất phù hợp. Luôn tổng kết, lượng định các thành quả đạt được để kịp thời chấn chỉnh, tránh trường hợp thua lỗ hay phương hại đến nền kinh tế chung.
     Kỹ nghệ hóa là nguyên tắc tất yếu để phát triển, tuy nhiên kỹ nghệ hóa như thế nào để đất nước phát triển nhanh, giữa người đầu tư và nước nhận đầu tư đều có lợi là vấn đề mà cấp thẩm quyền phải cân nhắc, suy tính. Nếu lợi ích chung được đặt trên cái riêng tư và lợi ích lâu dài được đặt cao hơn lợi lộc ngắn ngủi ắt hẳn các quốc gia nghèo trên thế giới không c̣n quá nhiều như hiện nay.
     Cho đến nay VN vẫn nằm trong danh sách các nước nghèo nhất thế giới với lợi tức đầu người là $640/năm (theo báo cáo tháng 12/2005 của chính quyền CS), c̣n theo Ủy Ban Phát Triển của LHQ th́ lợi tức đầu người ở VN hiện nay là $570/năm (lợi tức đầu người của các nước không nghèo là từ $3000-4000/năm)
     Tuy nhiên vấn đề lợi tức đầu người chỉ là h́nh ảnh để nhận định một cách tổng quát nền kinh tế của một quốc gia, cái chính là sự phân chia lợi tức có đồng đều (trên căn bản tạo ra sản phẩm và dịch vụ) hay không? Nếu thẩm định trên khía cạnh này th́ nền kinh tế VN hiện nay đang tăng trưởng trên một căn bản mất cân bằng về nhiều mặt mà hậu quả là người dân lao động là kẻ phải gánh chịu nhiều thiệt tḥi nhất, một cuộc sống bấp bênh nghèo khổ kéo dài từ đời này qua đời khác, không bao giờ thoát khỏi.
     Theo quan niệm mới (Ủy Ban Phát Triển của LHQ), vấn đề phát triển của một quốc gia được đánh giá qua nhiều khía cạnh chứ không thuần túy đặt trên căn bản lợi tức đầu người và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm.
     Một nước được gọi là đang trên đà phát triển phải có sự tiến bộ trên các lănh vực: Chính trị, Kinh tế, Môi trường, Hệ thống luật pháp và Tổ chức Công quyền, Giáo dục, Y tế và nếp sống văn minh của Xă Hội.
     Với những căn bản để lượng định kể trên phải nói VN hiện là một nước đang Tăng Trưởng chứ không phải một nước đang Phát Triển, h́nh ảnh này giống hệt như một người được nuôi ăn lớn nhưng đầu óc tŕ độn không phát triển, nghĩa là tuy lớn con nhưng không khác ǵ một đứa con nít.
     Việt Nam sau 15 năm đổi mới lợi tức đầu người chỉ tăng được $150 và sau 30 năm cầm quyền của CS th́ mọi căn bản khác đều bị phá vỡ. Từ một hệ thống chính trị cai quản đất nước bằng một đảng duy nhất với một mớ lư thuyết viễn vông độc đoán, một nền giáo dục xưa cũ từ chương mà đến ngay cả thầy dạy cũng mất căn bản về giáo dục chứ đừng nói đến sinh viên học sinh. Một tổ chức công quyền và một hệ thống y tế là nơi hành hạ bóc lột người dân một cách tận t́nh.
     Nhưng điều mà mọi người ưu tư nhất là nếp sống của xă hội VN hiện nay với quan niệm chụp giựt, tôn thờ vật chất, cố làm giàu bằng mọi cách kể cả những cách bẩn thỉu, vô đạo nhất miễn là có tiền.
     Với những sắc thái như vậy th́ VN có lẽ sẽ không bao giờ là một nước đang phát triển đúng nghĩa nếu không có sự thay đổi!
     Phan Nghĩa