Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


VIỄN TƯỢNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TRONG MƯỜI NĂM TỚI 

Xung đột Quốc Cộng đă để lại cho đất nước nhiều đổ vỡ, cả hai bên đều mang nhiều thương tích trầm trọng, từ vật chất đến tinh thần và tâm t́nh dân tộc. Nhiệm vụ của thế hệ mới là phải hàn gắn lại những đổ vỡ đó, và hơn thế nữa c̣n phải kiến tạo con đường mới không c̣n mang hệ lụy của một thời kỳ đầy sụp đổ. Câu hỏi đặt ra hiện nay cho những người mang nặng ưu tư về tiền đồ xứ sở vẫn là: "Sau khi tranh chấp Quốc Cộng qua rồi, rốt ráo tương lai chính trị Việt Nam sẽ như thế nào?"  Câu hỏi này đă có người đặt ra từ hai thập niên trước 

1/- Ư nghĩa của một câu chuyện năm xưa (1986).

Năm 1986, GS Nguyễn Ngọc Huy đến thăm và sinh hoạt cùng một số chiến hữu tại quận Brooklyn, thành phố New York, đến tối khi đa số các chiến hữu đă ra về, c̣n lại bốn người hầu chuyện cùng GS Huy.

Lúc đó một môn đệ trẻ tuổi hỏi:

- Thưa Thầy, xin Thầy cho biết sau khi cuộc tranh chấp Quốc-Cộng qua rồi, rốt ráo tương lai chính trị của Việt nam sẽ như thế nào?

Một ngời sáng linh động hiện lên khuôn mặt, GS Huy mỉm cười đứng dậy nói:

- Chú xem tôi cho kỹ đây.

Giáo sư vừa đặt chân bước đi vừa nói:

- Giống như một người đi bộ, đặt chân trái tới trước, rồi lại tới chân phải, rồi tới chân trái ... cứ như thế mà nước Việt Nam tiến tới.

Nói xong giáo sư ngồi xuống nh́n môn đệ:

- Chú đă hiểu chưa? Chưa hiểu hả? . .. Giống như nước Mỹ hết Cộng ḥa tới Dân chủ, hết Dân chủ tới Cộng ḥa. Chú đă hiểu chưa? Cộng ḥa lo cho nước mạnh, Dân chủ lo cho dân giàu. Chú đă hiểu chưa?

Thế rồi giáo sư im lặng, không nói thêm ǵ nữa. 

GS Nguyễn Ngọc Huy đă trả lời câu hỏi bằng một cử chỉ thay v́ bằng lời nói giải thích đầu đuôi. V́ vậy, người viết xin mượn một danh từ của Thiền Đạo để gọi sự giải thích này là một "công án" giống như sự giải thích bằng trực giác của các thiền sư vậy. 

Câu chuyện này đă đúc kết một viễn tượng chính trị của Việt Nam mà bây giờ, hai thập niên sau, đang có nhiều triển vọng trở thành hiện thực. Theo đó, rốt ráo rồi sinh hoạt chính trị của nước Việt Nam sẽ c̣n hai xu hướng: xu hướng dân chủ tự do và xu hướng dân chủ xă hội. Một xu hướng bênh vực lư tưởng tự do và nhân quyền của con người, và xu hướng kia th́ bênh vực lư tưởng công bằng xă hội của đa số người nghèo và yếu kém.

A)- Xu hướng dân chủ tự do.

Xu hướng này sẽ họp tập những thành phần thuộc phe chủ trương tự do và nhân quyền là yếu tính của con người, và phải cố tranh đấu để bảo vệ sự tự do ấy càng nhiều càng tốt. Nhưng khi các quyền tự do được nới rộng th́ các thành phần có thế lực sẽ là những người được hưởng nhiều tự do hơn những thành phần yếu kém, do đó lâu ngày sẽ tạo ra khoảng cách bất công xă hội. Thí dụ, mở rộng quyền tự do đi lại, người giàu có sắm được xe hơi hoặc mua vé máy bay để xuất ngoại dễ dàng; trong khi người nghèo không có tiền sắm xe hơi, không mua nỗi vé máy bay, phương tiện di chuyển chỉ là chiếc xe đạp, quanh năm họ chỉ đi quanh quẩn trong làng, trong huyện, như vậy tự do đi lại có nghĩa ǵ đối với họ; nó chỉ ưu đăi và phục vụ người giàu có, có thế lực mà thôi. Các quyền tự do khác như tự do báo chí, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, v.v. .. cũng vậy thôi.

Tuy nhiên, các thế lực mạnh trong xă hội, dù muốn dù không, sẽ là thành phần đẩy mạnh sự phát triển quốc gia, nhất là phát triển kinh tế. Bởi họ là những thành phần có thế lực, tất nhiên là họ có đủ cơ hội để có một tŕnh độ học thức cao, có phương tiện để học hỏi trong mọi ngành họ muốn ở tŕnh độ cao, họ có vốn liếng để đầu tư, có phương tiện để thực hiện những dự án phát triển một cách dễ dàng hơn những người nghèo.

B)- Xu hướng dân chủ xă hội.

Tuy giới tài phiệt có thế lực trong quốc gia đóng góp công của họ trong sự vận hành phát triển đất nước để có thể cạnh tranh với các nước khác trên trường quốc tế, nhưng nếu họ ở thế cầm quyền lâu dài sẽ tạo ra nhiều bất công xă hội, v́ các quyền tự do công nhận trên giấy tờ chỉ ưu đăi những người có thế lực hơn là nghèo khó. Giới công nhân, nông dân cũng là những thành phần sản xuất đóng góp sức lao động của họ vào sự phát triển quốc gia, nhưng họ sẽ bị giới thế lực tài phiệt bóc lột, khoảng cách giàu nghèo trong xă hội sẽ càng ngày càng xa hơn, và các quyền tự do trở thành mai mỉa đối với người nghèo v́ họ không có phương tiện để được hưởng tự do như đă nói ở trên. (Tự do cư trú trở thành tự do chết đói dưới gầm cầu, tự do đi lại nhưng chẳng bao giờ có tiền để đi đâu, v.v. .)

Trước t́nh trạng xă hội như thế, tuy quốc gia cường thịnh nhưng đời sống người dân bị bỏ bê, đảng cầm quyền thuộc xu hướng dân chủ tự do phải được thay thế bằng một chánh đảng đối lập theo xu hướng dân chủ xă hội. Với một chánh quyền theo xu hướng này, đời sống người dân nghèo sẽ được chăm sóc, các quyền lợi của nông dân, công nhân được nâng đỡ, và dĩ nhiên là sẽ giới hạn bớt quyền tự do và các quyền lợi của giới tài phiệt. V́ chăm lo nâng cao đời sống người dân, ngân sách quốc gia sẽ bị thâm thủng, và sức mạnh quốc gia sẽ lần lần bị suy yếu và sẽ bị thua kém các nước khác. Lúc đó v́ tự ái của quốc gia, chánh đảng theo xu hướng dân chủ tự do sẽ có lư do để thắng cử, để rồi họ sẽ trợ giúp thành phần thế lực tài phiệt tham dự mạnh mẽ vào sự vận hành phát triển kinh tế để đưa đất nước đi lên.

Đó là cái ư nghĩa của chân phải và chân trái trong công án Nguyễn Ngọc Huy. Chân này đặt tới trước rồi tới chân kia, cứ như thế mà nước Việt Nam tiến tới. Tuy nhiên, ư nghĩa của công án chưa hết ở đấy. Chân phải và chân trái giúp người ta bước tới, nhưng làm sao để cho chân này không đạp chân kia để người đi bộ không bị ngả té. Đấy mới là vấn đề mầu nhiệm. Sự chuyển bước điều ḥa giữa chân phải và chân trái sẽ được thực hiện qua cơ chế chính trị dân chủ của quốc gia, giống như chân phải và chân trái được điều hành bởi đầu óc và thân thể con người.

2/- Viễn tượng h́nh thành hai xu hướng chính trị: dân chủ tự do và dân chủ xă hội.

Hơn thế kỷ qua nước Việt Nam luôn luôn nằm trong những đấu tranh đẫm máu và hậu quả của nó th́ ngày nay ai cũng biết. Thế giới đang có nhiều biến đổi và xu hướng hiện nay là dân chủ hóa toàn cầu như là một chân lư của đời sống hạnh phúc, văn minh và tiến bộ.  Các thế lực đối kháng tại Việt Nam cũng phải dần dần biến đổi theo, nhanh hay chậm tùy theo t́nh thế mà thôi.

A )- Hai khuynh hướng của Tả Phái.

Đảng Cộng sản Việt nam nhất định sẽ có những biến thái theo chiều hướng tất yếu của lịch sử là Cộng sản cổ điển sẽ không c̣n tồn tại. Sự biến thái của Đảng Cộng sản sẽ chia thành hai khuynh hướng: khuynh hướng độc tài bảo thủ và khuynh hướng dân chủ xă hội.

1. Khuynh hướng độc tài bảo thủ.

Nhóm cộng sản bảo thủ vẫn nh́n thấy rằng chủ nghĩa cộng sản không thể nào tồn tại, nhưng v́ tự ái, v́ hào quang quá khứ hăo huyền, và v́ quyền lợi bản thân ngay trước mắt mà xă hội cộng sản đang ưu đăi họ, họ sẽ cố kết với nhau để bảo vệ những ǵ mà họ đang được hưởng, bất chấp quyền lợi quốc gia, bất chấp sự tồn vong của dân tộc, bất chấp xă hội đầy dẫy bất công, bất chấp tương lai của các thế hệ mai sau. Họ sẽ nhất quyết dùng bạo lực đẫm máu, dùng tù đày để bảo vệ ngôi vị. Tập đoàn của họ từ từ trở thành một tập đoàn phát xít độc tài lănh đạo đất nước (v́ bị mất chánh nghĩa nên nhiều người c̣n gọi họ là ''Tập đoàn lănh đạo Mafia''). Quyền lợi đất nước được chia chác trong những bàn tay đẫm máu của họ. Khuynh hướng độc tài bảo thủ này hiện đang có và đang thủ một vai tṛ rất mạnh tại Việt Nam.

Về mặt lư tưởng, Cộng sản Việt nam đă mất cái chủ nghĩa thần thánh từng là chất keo để gắn bó họ với nhau. Chủ nghĩa Mác-Lê không c̣n giá trị nữa, và ngày nay họ đang gượng ép bám víu vào cái gọi là Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh là cái ǵ? Thực ra, khi bỏ tư tưởng Mác-Lê đi rồi th́ tư tưởng Hồ Chí Minh chả có là cái ǵ hết, chỉ c̣n là một tiếng gọi suông cho có mà thôi. Không c̣n chất keo của lư tưởng để gắn bó với nhau, đảng viên cộng sản chỉ c̣n có quyền lợi để gắn bó với nhau, và đảng Cộng sản trở thành một tầng lớp vừa độc tài vừa thối nát lănh đạo quốc gia. Họ đang cấu kết với tư bản ngoại quốc để chia nhau bán các tài nguyên của Đất nước, thu lợi tức cho Đảng và tầng lớp lănh đạo Đảng, mặc kệ cho người dân bị bóc lột và mặc kệ cho bất công xă hội hiện hữu khắp nơi. Cái lư tưởng chống bất công xă hội từng được học thuyết Mác-Lê nêu cao được thay thế bằng chủ nghĩa tư lợi cá nhân của cấp lănh đạo.

Tập đoàn cộng sản bảo thủ hiện nay đang đứng trên hai chân là quân đội và công an. Chánh sách cởi mở kinh tế đang đem lại một nguồn lợi, nguồn lợi đó thay v́ phục vụ cho toàn thể nhân dân trong nước, nhóm cộng sản bảo thủ sẽ chỉ dùng nguồn lợi đó để nuôi cán bộ đảng viên đàn em, quân đội và công an. Tầng lớp này sẽ có nhiều quyền lợi khắm khá, sẽ liên kết nhau lại thành một tập đoàn cai trị độc tài một cách vững chắc, và chế độ cai trị trở thành Tân Phát Xít vừa quân phiệt vừa phong kiến, đứng trên Hiến pháp và luật pháp của quốc gia.

2. Khuynh hướng dân chủ xă hội.

Khuynh hướng này gồm những đảng viên cộng sản đă thức thời, nh́n thấy rơ tiến tŕnh âm phủ của chủ nghĩa cộng sản, nhưng họ vẫn tha thiết với vấn đề công bằng xă hội, bênh vực tầng lớp lao động nghèo khó chống lại sự bất công và áp bức của người giàu; họ vẫn tha thiết với một tiền đồ xán lạn của dân tộc, họ vẫn chấp nhận hy sinh để mơ ước xây dựng nước Việt nam thêm giàu, thêm đẹp, thêm thương. Nhưng t́nh trạng của họ ban đầu là những kẻ bơ vơ, nhưng dần dần họ sẽ kết hợp lại thành một sức mạnh. Người cộng sản bảo thủ cực đoan đang chực hờ để giết họ hoặc loại trừ họ. Con số đảng viên cộng sản có khuynh hướng dân chủ xă hội này chắc chắn không phải là nhỏ. Họ là đa số đảng viên thầm lặng ở cấp dưới hoặc thuộc thành phần hồi hưu, không được hưởng những ưu đăi như những đảng viên bảo thủ đang nắm quyền lănh đạo. Họ vẫn c̣n ôm ấp lư tưởng trong sáng của một người Việt nam có ḷng ái quốc, họ đang t́m hướng đi mới để thực hiện những mơ ước về công bằng xă hội, để xây dựng một nước Việt nam thêm giàu, thêm đẹp, thêm thương.

Đường lối ḥa dịu sẽ mở cho họ một lối thoát. Họ sẽ có cơ hội để ly khai thành phần cộng sản bảo thủ cực đoan để h́nh thành một lực lượng dân chủ xă hội có tinh thần ôn ḥa và tiến bộ. Lực lượng dân chủ xă hội tả khuynh này là một biến thái của Đảng Cộng sản được thực hiện bởi những người cộng sản tiến bộ và ôn ḥa, có ḷng ái quốc và c̣n thiết tha đến sự tồn vong và tiến bộ của dân tộc.

B )- Hai khuynh hướng của Hữu Phái.

Do sự biến chuyển của lịch sử và do sự thay đổi chiến lược toàn cầu của các siêu cường, Hữu phái sẽ tự động chia làm hai khuynh hướng: khuynh hướng bảo thủ cực đoan và khuynh hướng ôn ḥa tiến bộ.

1. Khuynh hướng quốc gia bảo thủ cực đoan.

Những người thuộc khuynh hướng này nhất định không chịu đội trời chung với những người tả phái, dù là tả phái ôn ḥa tiến bộ. Họ c̣n bị những ấn tượng sâu đậm của một thời kỳ tranh chấp đầy máu lửa. Nghiệp chướng hận thù cộng sản c̣n nặng trong ḷng họ. Ánh sáng của Đại Phản Tỉnh vẫn không xóa tan được những đám mây mờ thù hận. Chẳng những chống cộng sản mà họ cũng chống luôn cả những người quốc gia ôn ḥa muốn thực hiện Chiến lược ḥa dịu đối với cộng sản. Thành phần Quốc gia bảo thủ cực đoan rất mạnh sau 1975, nhưng ngày nay đang dần dần nhỏ lại để nhường bước cho những thành phần Quốc gia ôn ḥa và tiến bộ.

2. Khuynh hướng quốc gia ôn ḥa và tiến bộ.

Khuynh hướng này xuất hiện và phát triển từ khi Liên xô sụp đổ và chiến tranh lạnh chấm dứt. Tiếp theo là các quốc gia Đông Âu lần lượt sụp đổ trong thời gian kỷ lục khiến người ta thấy rằng muốn chiến thắng cộng sản không phải bằng bạo lực đổ máu mà bằng sự êm ả của đường lối ḥa dịu mà người cộng sản gọi là "diễn biến ḥa b́nh."

Ngày nay, khuynh hướng ôn ḥa và tiến bộ đang phát triển mạnh trong giới người Việt, cả hải ngoại và quốc nội. Người Việt nam quốc nội hiểu rơ hơn ai hết về thân phận của ḿnh.  Sống ngay trong ḷng dân tộc, ngay trong ḷng quê hương, đă hứng chịu nhiều chua chát, đắng cay từ một chế độ cai trị lạc hậu bởi một tập đoàn độc tài và tham lam, người Việt quốc nội giờ đây không muốn ǵ hơn là một sự dân chủ hóa trong ôn ḥa trật tự, bởi những thành phần ôn ḥa và tiến bộ, bất luận những thành phần đó thuộc tả phái hay hữu phái.

Rồi đây, theo bước tiến của lịch sử, lực lượng dân chủ xă hội của Tả phái và lực lượng dân chủ tự do của Hữu phái sẽ là hai lực lượng cạnh tranh ôn ḥa trong một Chiến Lược Ḥa Dịu để tổ chức và xây dựng một nền dân chủ đa nguyên đích thực tại Việt Nam. Hai lực lượng này rồi đây sẽ chiếm đa số trong thành phần dân tộc và trở thành hai chân tả hữu trong công án Nguyễn Ngọc Huy của nền chính trị dân chủ tự do. Các thành phần bảo thủ cực đoan cả phe tả lẫn phe hữu sẽ bị dân tộc đẩy ra ngoài ŕa của lịch sử. Đó là viễn tượng về một trật tự mới của chính trị Việt Nam ở thời kỳ hậu Cộng sản.

3/- Viễn tượng h́nh thành lưỡng đảng.

Cơ chế chính trị dân chủ của Việt Nam phải bao gồm hai mặt: h́nh thức và thực chất.

H́nh thức của cơ chế chính trị dân chủ đó là Hiến pháp và Luật pháp dân chủ, cùng với cơ cấu tổ chức chánh quyền dân chủ, qua thể thức ứng cử và bầu cử tự do, trung thực để tuyển chọn người tài đức vào các cơ cấu của quốc gia. Đây là những định chế nổi mà người ta dễ nh́n thấy. Tuy nhiên, những định chế này là cần nhưng chưa đủ để có sinh hoạt chính trị dân chủ thật sự. Cái thực chất của sinh hoạt dân chủ nằm nơi các chánh đảng tức là những thế lực hậu trường của chánh quyền (của Hành pháp, Lập pháp, và Tư pháp).

Chánh đảng là những tổ chức thế lực nằm bên sau những nhân vật chánh quyền và chi phối chánh sách của chánh quyền. Không có chánh đảng th́ dân chủ chỉ là bánh vẽ. Nếu chỉ có một chánh đảng duy nhất để chi phối chánh trường th́ đó là nền dân chủ giả hiệu, v́ tất cả quyền lực quốc gia dù được phân chia thành Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, hay phân chia trung ương, địa phương, đều xuất phát từ một nguồn gốc là cái chánh đảng duy nhất đó. Người Chủ Tịch Đảng trở thành Hoàng Đế của quốc gia v́ nắm tất cả quyền sinh sát trong tay. Đó là t́nh trạng của nước Việt Nam cộng sản hiện nay. Nước Việt Nam hiện nay cũng có phân quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, cũng có Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng. .. do dân bầu ra, nhưng tất cả đều xuất phát từ trong đảng Cộng sản mà ra và chấp hành các mệnh lệnh của đảng. Đảng Cộng sản độc quyền nắm hết các quyền lực của quốc gia. Đó là một thứ dân chủ giả hiệu, lừa gạt, chỉ có h́nh thức mà không có thực chất.

Vai tṛ của chánh đảng quan trọng như vậy, nhưng người dân Việt Nam, đáng nói là những thành phần trí thức, tầng lớp sĩ phu của dân tộc, lại rất lơ là và nhiều khi c̣n sợ sệt nữa khi gia nhập các chánh đảng.

Ngược lại về phía Cộng sản, v́ ư thức tầm quan trọng như vậy của chánh đảng, nên người cộng sản có thể sẵn sàng chấp nhận quyền hành quốc gia phân chia thành tam quyền, tứ quyền, ngũ quyền ǵ cũng được, và cũng có bầu cử, ứng cử, nhưng không dễ dàng chấp nhận chánh đảng thứ hai đối lập chánh trị, trừ phi họ ở thế suy yếu đành phải lùi bước.

Bên cạnh chánh đảng, sinh hoạt dân chủ cũng thể hiện qua các hội đoàn (không phải chánh đảng) tức là qua những tổ chức mà danh từ của chánh trị học gọi là ''Đoàn thể áp lực'', nhưng đây chỉ là sinh hoạt dân chủ nửa vời. V́ sao? V́ các hội đoàn áp lực cũng thể hiện tiếng nói của quần chúng trong sinh hoạt dân chủ, nhưng v́ họ không phải là tổ chức để nắm lấy chánh quyền như chánh đảng, nên họ không chịu trách nhiệm về những hoạt động của họ khi đưa quốc gia vào t́nh trạng thất bại; trong khi đó chánh đảng v́ nắm lấy chánh quyền nên phải chịu trách nhiệm về các chánh sách của ḿnh trước quốc dân một cách rơ ràng.

Sinh hoạt dân chủ thông qua các hội đoàn áp lực là một sinh hoạt tự nhiên và không thể bị ngăn cấm (v́ ngăn cấm tức là độc tài), nhưng sinh hoạt này không thể được coi là sinh hoạt dân chủ trưởng thành và có lợi cho quốc gia bằng sinh hoạt chính trị dân chủ thông qua các chánh đảng.

Ư nghĩa thâm thúy của công án Nguyễn Ngọc Huy ở chỗ hai chân tả hữu là tượng trưng của hai đảng đối lập thay phiên nhau cầm quyền như một người đi bộ, vừa cạnh tranh nhau vừa hợp tác với nhau để đưa quốc gia tiến tới theo một tiến tŕnh ôn ḥa, nhuần nhuyễn qua các cơ chế của một chế độ dân chủ, trong đó chánh đảng ở trong hậu trường nhưng đóng vai tṛ then chốt để hiện thực nền dân chủ thực sự. Đây là một thế vơ ''Song thủ hỗ bác'' trong sinh hoạt chính trị quốc gia, vừa đối lập để kiểm soát, vừa hợp tác để xây dựng và chống lại các thế lực bất lợi từ ngoại bang.

Vấn đề của chúng ta là làm sao để đạt tới t́nh trạng đó, trong khi quốc gia đang phân hóa trong t́nh trạng đa đảng ở hải ngoại, độc đảng ở trong nước, và nhất là t́nh trạng Quốc Cộng tương tàn. Vấn đề tổ chức để gom các chánh đảng lại để chỉ c̣n hai chánh đảng đối lập nhau là một vấn đề khó và cần thời gian để các chánh đảng tự thích nghi hóa với hoàn cảnh mới.

Vấn đề có thể khởi đầu để thực hiện được là từ bản Hiến Pháp, và cũng từ đây là khởi đầu để xây dựng nền Dân chủ hiến trị.  Ngoài sự qui định một qui chế chánh đảng và sinh hoạt chính trị trong tự do dân chủ, Hiến pháp cần qui định một qui chế đặc biệt về đối lập chính trị. Thí dụ, sau cuộc bầu cử đầu tiên, chánh đảng nào thất cử với số phiếu cao nhất so với những chánh đảng thất cử khác, chánh đảng đó sẽ được công nhận là chánh đảng đối lập với đảng chánh quyền, để đại diện cho phe thiểu số. Vị lănh tụ chánh đảng đối lập được tham dự vào Quốc hội như là một nghị sĩ để phát biểu tiếng nói của phe thiểu số. Như vậy tư thế đối lập của chánh đảng này dần dần được củng cố, các chánh đảng nhỏ, yếu ớt sẽ dần dần nhập vào hai chánh đảng lớn hoặc bị tan rả v́ không có thực lực. Tiến tŕnh này sẽ đ̣i hỏi thời gian nhiều năm.

Các chánh đảng thiên về phía hữu sẽ liên kết nhau hoặc sẽ sát nhập vào nhau để đại diện cho lư tưởng dân chủ tự do. Các chánh đảng thiên về phía tả sẽ kết lại và đại diện cho lư tưởng dân chủ xă hội.

Đảng Cộng sản vẫn được công nhận quyền hoạt động chính trị như những chánh đảng khác, nhưng chắc chắn trong tương lai đảng Cộng sản không thể nào là một chánh đảng mạnh, v́ nhân dân Việt nam không c̣n tin tưởng nữa. Đảng Cộng sản có thể sẽ biến h́nh thành một đảng dân chủ xă hội để tranh đấu cho các thành phần xă hội nghèo chống lại sự bóc lột của các thế lực tài phiệt trong quốc gia. Điều quan trọng là mọi chánh đảng phải tranh đấu (nói đúng hơn là cạnh tranh) trong ôn ḥa, trong khuôn khổ của luật pháp và hiến pháp, để vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát triển đất nước trong một xă hội ''ḥa nhi bất đồng.'' Sự cạnh tranh trong ôn ḥa để tiến bộ này sẽ đưa quốc gia tiến tới, và tiến theo tốc độ nhanh của sự cạnh tranh, một nhu cầu cần thiết của quốc gia trong mười năm tới.

4/-Viễn tượng h́nh thành tinh thần Việt Nam mới:  Dân tộc ḥa hợp.

Không lẽ dân tộc Việt Nam phải chịu đựng măi măi mối hận thù Quốc Cộng? Không lẽ dân tộc Việt Nam cứ phải chia rẽ và ly tán để rồi đi đến chỗ bị đô hộ và diệt vong?  Không lẽ những người trí thức cộng sản cứ măi chịu cam tâm làm nô bộc cho đám cộng sản dốt nát để phá nát đất nước?  Tinh thần dân tộc ḥa hợp rốt cuộc rồi sớm hay muộn cũng phải đặt ra cho người Việt Nam.

Viễn tượng dân tộc ḥa hợp khó nói bằng ngôn ngữ hiện thực ở thời buổi hiện nay bởi v́ dị ứng c̣n quá mạnh, nên người viết xin dùng một câu chuyện trong "Tiếu ngạo giang hồ" và những b́nh luận của cố GS Nguyễn Ngọc Huy trong quyển "Các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung"  để mượn đó mà nói th́ dễ diễn đạt hơn.  Nhận định về chính trị mà dùng "Tiếu Ngạo giang hồ" để nói th́ có vẻ không đứng đắn. Nhưng dùng nó để nói mà tránh được dị ứng và dễ được người ta chấp nhận th́ cũng là một điều hay.

Cho đến nay, chúng ta thấy rằng trở lực của công cuộc dân chủ hóa Việt Nam không phải từ ngoại lai, mà chính là từ cái tâm hẹp ḥi và sợ hăi v́ bị quấn chặt bởi những định kiến sai lầm như một thứ nghiệp chướng dày đặc của lịch sử đè lên những người đang nắm quyền lực.

           Cái trở ngại lớn hiện nay là các định kiến từ quá khứ xung đột đẫm máu và ḷng thù hận vẫn c̣n sâu đậm trong ḷng người, ăn sâu thành một quan niệm chánh tà trong tâm tưởng. Làm sao phá vỡ được những bức tường vô h́nh và nghiệt ngă đó để tháo ṿng nghiệp chướng cho dân tộc?  Đây là ưu tư lớn của những người có ḷng ái quốc.

Trong quyển sách b́nh luận ''Các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung'', cố GS Nguyễn Ngọc Huy đă kín đáo gửi một thông điệp cho lớp người đi sau, v́ ông biết rằng đời của ông chưa thể làm được.  Đó là thông điệp của bản nhạc ḥa tấu''Tiếu Ngạo Giang Hồ''.

Trong quyển sách, GS. Nguyễn Ngọc Huy đă nói đến một trong những mơ ước lớn của Kim Dung cho dân tộc Trung Hoa như sau:

''Cũng như mọi người ái quốc, Kim Dung chắc chắn là rất đau ḷng trước sự phân hóa của dân tộc Trung Hoa do cuộc xung đột Quốc -  Cộng mà ra.  Từ khi đă nhận chân rằng Trung Cộng cũng có những khuyết điểm lớn và những nhơn vật không tốt, trong khi phía đoàn thể quốc gia Trung Hoa, nhứt là Trung Hoa Quốc Dân Đảng, cũng có những chỗ hay và những nhơn vật tốt, Kim Dung có ước vọng muốn thấy hai phe Quốc -  Cộng ḥa giải ḥa hợp với nhau để cùng nhau xây dựng quốc gia.'' (Nguyễn Ngọc Huy, ''Các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung'', trang 256).

            Cũng trong quyển sách ấy, câu chuyện tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa hai phe chánh tà mà GS Huy rất khen ngợi là bản nhạc ''Tiếu Ngạo Giang Hồ'' do Lưu Chánh Phong (thuộc Chánh phái) và Khúc Dương (một Trưởng Lăo của Ma Giáo) hợp nhau sáng tác.  Một bản nhạc biểu lộ sự hài ḥa và cảm thông giữa hai người thuộc hai phe chánh tà khác nhau, nhưng đă vượt lên trên tính giáo điều khắc khe, ḷng đố kỵ, vượt lên trên những định kiến và nhăn quan sai lầm chánh tà đă ăn sâu trong ḷng người, để biểu lộ sự cảm thông hài ḥa của những con người có ḷng khoan dung và cởi mở, và họ sẵn ḷng chết cho sự khoan dung cởi mở đó. GS Huy hết ḷng ca ngợi đức tính cởi mở khoan dung của hai vị này như sau:

''Lưu Chánh Phong và Khúc Dương là những nhơn vật rất tốt và có tinh thần cởi mở khoan dung.  Việc họ do ḷng say mê âm nhạc mà kết bạn với nhau và cùng nhau sáng tác bản nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ biểu lộ cho mơ ước của Kim Dung là các nhơn vật tốt của hai phe Quốc và Cộng ở Trung Hoa có sự tôn trọng và thương mến nhau và thực hiện được sự ḥa giải ḥa hợp giữa hai bên.  Nhưng Lưu Chánh Phong và Khúc Dương đă bị tinh thần giáo điều của các phe đối chọi nhau mà bị bức tử.''  (Nguyễn Ngọc Huy, ''Các ẩn số chính trị...'', tr. 258).

Bản nhạc này đă được vợ chồng Lệnh Hồ Xung (phe chánh) và Nhậm Doanh Doanh (phe tà) cùng nhau ḥa tấu trong tiệc cưới của họ, biểu lộ sự chiến thắng của tinh thần ḥa hợp thật sự giữa hai phái Chánh Tà từng không đội trời chung.  Trước kia, khi sự thù hận và định kiến giữa hai bên c̣n chất chồng, Khúc Dương và Lưu Chánh Phong, tác giả của bản nhạc này đă bị các chánh phái sát hại v́ không chấp nhận sự kết bạn này (huống chi là kết hôn!).

Người tiếp nối sự nghiệp ḥa giải với các chánh phái là Hướng Vấn Thiên. Ông là Quang Minh Hữu Sứ, nhân vật số 2 trong Ma Giáo, đứng sau Giáo Chủ.  Khi Giáo Chủ Nhậm Ngă Hành chết, Nhậm Doanh Doanh từ bỏ ngôi Giáo chủ do cha truyền lại để đi theo Lệnh Hồ Xung ca khúc...''Tiếu Ngạo Giang Hồ'', quyền hành Giáo Chủ Triêu Dương Thần Giáo trao lại cho Hướng Vấn Thiên và ông này tiếp tục chánh sách ḥa hợp ḥa giải với các chánh phái, theo tinh thần khoan dung cởi mở của Khúc Dương và Lưu Chánh Phong xưa kia.

GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng đây là một mơ ước của Kim Dung trước sự xung khắc Quốc Cộng tại Trung Hoa, nhưng có ai hiểu được rằng đây cũng là mơ ước của cố GS Nguyễn Ngọc Huy để đất nước Việt Nam thoát ra khỏi tương khắc Quốc Cộng?  Mơ ước này phải được thực hiện từ phía Cộng sản v́ họ đang nắm quyền lực bao trùm.  Hướng Vấn Thiên là ai?  Ở đâu?  Ước mơ này có thực hiện được không?  Và nếu được thực hiện th́ có thành công không?  Những câu hỏi này, vào thập niên 1970, Kim Dung không nh́n thấy được câu trả lời, nên ông đặt tên cho người thực hiện sự nghiệp đó là Hướng Vấn Thiên, tức là ''Ngước mặt hỏi Trời xanh'' vậy.

            Cố GS Nguyễn Ngọc Huy cũng mơ ước như vậy cho đất nước ḿnh, nhưng vào thập niên 1980, ông vẫn không dám nói đó là mơ ước của ḿnh, ông đành phải giải bày bằng nỗi ḷng của Kim Dung ở Trung Quốc!  Cố GS Huy cũng thấy gương của Lưu Chánh Phong và Khúc Dương bị sát hại bởi những người  mang danh chánh phái nhưng quan điểm hẹp ḥi và tư tưởng đầy nặng những định kiến giáo điều. Liệu rồi đây, thế hệ đàn em của GS Huy có hiểu được, có giải bày được, và thực hiện được những ước mơ của GS Huy không? Thế hệ Việt Nam hôm nay sẽ ngước mặt hỏi Trời xanh hay là câu trả lời đang nằm ngay trên con đường lịch sử trước mặt?

Hướng Vấn Thiên là nhơn vật cao cấp trong tổ chức Ma Giáo, nhưng ông có tinh thần cởi mở và hiểu biết. Ông chấp nhận thi hành chánh sách ḥa giải ḥa hợp với các phe chánh phái, tức là cái mà ngày nay chúng ta gọi là  ''sinh hoạt dân chủ đa nguyên trong tinh thần bao dung và tôn trọng lẫn nhau'', để ''ḥa nhi bất đồng'' xây dựng hạnh phúc và ḥa b́nh cho xă hội. Điều đáng để ư là những nhơn vật số 1 của Ma Giáo như Nhậm Ngă Hành hay Đông Phương Bất Bại đă không làm được chánh sách này, v́ họ có tham vọng độc tôn thống lănh quần hùng, một ảo tưởng mà đến chết họ cũng không làm được. Những người số 2, số 3 của Ma Giáo, có tinh thần hiểu biết và cởi mở sẽ là những người đứng lên làm ra lịch sử mới cho ngày mai. Họ sẽ là những anh hùng dân tộc của thời đại mới.

Dân tộc ḥa hợp để thống nhất và phát triển có phải là ước vọng của mọi người Việt nam yêu nước? Làm sao để ước vọng đó thành tựu? Làm sao tháo ṿng nghiệp chướng để dân tộc được vươn ḿnh? Những người lănh đạo Việt Nam ngày nay nên hỏi chính ḿnh hay nên hỏi Trời xanh? Đây có thể là một viễn tượng của Việt Nam trong mười năm tới?

Những điều viết nơi đây là những viễn tượng đẹp cho đất nước, đây là những ước mơ phối hợp với kết quả của một tập hợp đấu tranh thuộc mọi thành phần của dân tộc để làm chuyển biến lịch sử và đem ước mơ vào hiện thực. Thời gian 10 năm là ngắn hay là dài?

Dương Thái Sơn
            (Bắc Mỹ, tháng 10 năm 2005)