Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


VỀ MỘT ĐÓNG GÓP CUỐI ĐỜI

     Vào mùa Xuân năm 2002, trên kệ trưng bày của các nhà sách Tự Lực, Văn Bút, Văn Khoa... ở Little Saigon, Nam California, đă lẳng lặng xuất hiện một đầu sách mang tựa đề “Văn Phạm và Ngôn Ngữ Việt Nam” do SEACAEF (Southeast Asian Culture and Education Foundation) ấn hành, của 2 tác giả TU DINH và VO CAO. Hai tên viết theo lối Mỹ (không có dấu và đặt vị trí họ sau tên riêng), nên được các độc giả thoạt nhận xem như là hai bút hiệu của hai nhà nghiên cứu. Thực sự, TU DINH chính là Đinh Thiên Tứ, một chuyên gia địện toán đang trên quá tŕnh hoàn thành chương tŕnh Tiến sĩ Toán học ở Tiểu bang Minnesota, và VO CAO th́ chính là Cao Tấn Vỏ, cựu Sinh viên tốt nghiệp khóa 7 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, rất quen thuộc với anh chị em đồng khóa, do dáng dấp thư sinh, bản tánh hiền ḥa và trầm lặng.
     Ngữ học và Hành Chánh vốn là hai ngành học khác biệt, nhưng nay Cao Tấn Vỏ bổng xuất hiện là một nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn phạm và ngôn ngữ Việt Nam th́ quả là một việc gây ngạc nhiên không ít. Hầu như theo một khuynh hướng chung, vào thập niên 1960, nhiều anh chị em trong khi theo học ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đều thường tranh thủ đồng thời cùng theo học bên Trường Đạị Học Luật Khoa. Nhưng riêng Cao Tấn Vỏ th́ lại gắn liền với Trường Đại Học Văn Khoa, tiếp nối chương tŕnh mà anh đă theo hoc trước khi nhập học Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Và chính hành trang kiến thức “đại học văn khoa” cộng thêm số vốn dồi dào về chữ Hán đă giúp anh biến thành hiện thực hoài bảo thuở thiếu thời theo đuổi công tŕnh nghiên cứu về văn phạm Việt Nam vốn là một đề tài mà phàm là người Việt Nam th́ ai cũng quan tâm.
     Bản thân Cao Tấn Vỏ sau khi vượt biên sang định cư tại Hoa Kỳ, cũng đă theo học và sanh sống trước khi về hưu với ngành khoa học điện toán. Nhờ đó, kết hợp với đồng tác giả Đinh Thiên Tứ, chuyên gia khoa học điện toán, đồng thời cũng là người cháu gọi bằng cậụ, Cao Tấn Vỏ đă soạn nên tập sách “Văn Phạm và Ngôn Ngữ Việt Nam”với một lối tiếp cận tân kỳ, xây dựng một khảo hướng mới, phân tích khoa học dựa trên những dử liệu cụ thể thay v́ theo lư luận cảm tính chủ quan cổ điển.
     Quả thật, đây là một công tŕnh cuối đời đánh dấu độ tuổi vừa vượt qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hi”, cũng như đối với các đồng môn Quốc Gia Hành Chánh khác đă thoát ra được tới nước ngoài sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi hoàn cảnh đất nước đă phủ phàng chấm dứt và buộc phải bỏ lại sau lưng nơi quê nhà toàn bộ sự nghiệp hành chánh ít nhiều cao đẹp của ḿnh.
     Trong niềm thích thú và thán phục về đức tánh kiên tŕ và quyết tâm của người bạn đồng khóa Quốc Gia Hành Chánh lấy sức tàn hơi c̣n lại, cố đóng góp soi sáng ngôn ngữ Việt, nơi xứ lạ quê người, tôi đă viết bài dưới h́nh thức điểm sách, đánh giá và giới thiệu tập sách của hai tác giả, được đăng trong nguyệt san Thế Kỷ 21.
     Trong thời gian hơn một năm sau, tập sách lại được tái bản với một kích cở lớn hơn kèm theo một CD về trử lượng chữ đôi tiếng Việt, thể hiện một sáng kiến độc đáo giúp người đọc có cơ sở tham khảo cụ thể.
     Vào mùa đông năm 2004, hai tác giả lại cho ra đời “Chuyện Bên Lề và Chợ Trời Chữ Nghĩa,(cũng do SEACAEF xuất bản), tiếp tục triển khai những luận đề nội dung triển khai thêm các vấn đề đă được gợi lên, càng đọc càng thấy thích thú về những ǵ liên quan đến văn phạm và ngôn ngữ Việt Nam. Đây là tập 1, chứng tỏ trong tương lai, hai tác giả c̣n tiếp tục cho ra đời một số tập kế tiếp.
     Xuyên qua công tŕnh nghiên cứu, người đọc ghi nhận, trải qua nhiều ngàn năm trong lịch sử, người Việt buổi đầu không có chữ viết riêng của ḿnh nên phải học chữ Hán của người Tàu. Sự lệ thuộc chữ nghĩa của người Tàu đưa đến sự lệ thuộc văn hóa của người Tàu. Đến thế kỷ 13, người Việt mới dựa vào chữ Hán để sáng chế ra chữ Nôm là loại chữ ghi âm tiếng Việt. Chữ Nôm là chữ viết riêng đầu tiên của người Việt; tuy nhiên, muốn học chữ Nôm phải ṿng qua chữ Hán.
     Nói cách khác, với sự ra đời của chữ Nôm, người Việt cũng chưa thoát khỏi sự lệ thuộc chữ Hán và văn hóa của người Tàu. Trong thời kỳ Hán Nôm, văn học Việt Nam chỉ nh́n thấy có một phương là: nước Tàu và văn hóa Tàu. Phải đợi đến thế kỷ 19, với sự ra đời của chữ quốc ngữ, văn học Việt Nam mới vượt qua Vạn Lư Trường Thành để nh́n ra khắp bốn phương. Ngày xưa, v́ chữ Hán và chữ Nôm khó học nên phần đông dân gian đều mù chữ, chỉ một số ít sĩ phu mới có sách vở và sách vở được đọc một cách trang trọng trong các thư pḥng. Ngày nay, chữ quốc ngữ, dưới dạng thức la tinh hóa, dễ học, làm cho tỷ lệ người mù chữ được liệt vào hàng thấp trên thế giới (khoảng 6%), và số đông người biết chữ thúc đẩy sự ra đời của sách báo tiếng Việt và phát triển.
     Tuy nhiên, số lượng chữ đơn quốc ngữ rất ít ỏi, không đủ để thỏa măn nhu cầu thông tin báo chí và sáng tác văn học. Và mỗi khi cần phiên dịch một chữ mới của nước ngoài, người Việt có thói quen nghĩ đến việc mượn chữ Hán, đọc theo giọng Việt gọi là tiếng Hán Việt. Hậu quả của thói quen nầy là người Việt sẽ lội ngược ḍng lịch sử trở về thời kỳ lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Tàu ngày xưa.
     Theo lư luận của Cao Tấn Vỏ và Đinh Thiên Tứ, đă đến lúc người Việt phải dứt khoát không chấp nhận đứa con nuôi có tên là “Hán Việt”, và nhận những đứa con đẻ đă bị bỏ hoang hàng trăm năm nay và tự vạch cho ḿnh một con đường để thoát khỏi sự lệ thuộc chữ nghĩa Tàu và văn hóa Tàu. Con đường đó được mở ra với việc khám phá và sử dụng trữ lượng khổng lồ những chữ Việt bị bỏ hoang mà tác giả gọi là những “chữ chờ” v́ chúng đang hiện có và chờ người Việt đem ra dùng. Khi đó chúng sẽ có mặt trong kho từ vựng Việt Nam và các từ điển tiếng Việt.
     Dựa trên sự cấu tạo chặt chẽ của chữ quốc ngữ và kỹ thuật điện toán, tác giả đă liệt kê tất cả chữ đơn quốc ngữ là 20,088 chữ đơn trong đó phần lớn các chữ đơn đang được dùng trong sách báo và phần nhỏ những chữ đơn bị bỏ hoang. Những chữ đơn bị bỏ hoang nầy cũng là chữ quốc ngữ v́ chúng theo đúng cách cấu tạo chữ quốc ngữ, nhưng chúng chưa có nghĩa v́ chúng chưa được người Việt sử dụng.
     Chữ đơn tiếng Việt có ba khuyết điểm chính :
     (1) chữ đơn phát âm nghe cộc lốc, không êm tai;
     (2) chữ đơn dùng để diễn tả các sự vật hay sự việc cụ thể, nhưng không thích hợp cho các ư niệm trừu tượng;
     (3) chữ đơn dùng để diễn tả các sự vật hay sự việc riêng lẻ, nhưng không thích hợp cho các ư niệm tổng quát.
V́ những lư do đó người Việt thường dùng các chữ đôi, trong lời nói và trong chữ viết. Áp dụng phép hoán vị (permutation) cho 20,088 chữ đơn quốc ngữ, người ta có một số lượng khổng lồ các chữ đôi tiếng Việt:
     P (n, r) = n / [(n – r)] = 20,088 / [(20,088 – 2)] = 403,527,744 chữ đôi
    Trong số hơn 403 triệu chữ đôi trên đây, chỉ có một phần rất nhỏ chữ đôi đang được dùng, phần rất lớn c̣n lại là những chữ bị bỏ hoang hay chữ chờ. Tự điển đầy đủ nhất của Mỹ cũng gồm có khoảng 1 triệu chữ thôi. V́ vậy, có thể nói trữ lượng 403.527.744 chữ đôi quốc ngữ Việt là vô tận, có thể dùng cho nhu cầu ngôn ngữ hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, cũng chưa cạn kiệt.
     Việc xác định số lượng chính xác 403.527.744 chữ đôi quốc ngữ là một đặc điểm của chữ quốc ngữ, v́ ở các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha chẳng hạn, không thể tính được số lượng chữ một cách chính xác. Ngoài ra, toán học và kỹ thuật vi tính giúp cho việc tính toán số lượng và tŕnh bày các h́nh thức kết hợp của 403.527.744 chữ đôi một cách chính xác và nhanh chóng; đó là một việc mà cách nay khoảng 30 năm (khi kỹ thuật vi tính chưa ra đời) con người không thể làm được. Việc khám phá và sử dụng trữ lượng vô tận hơn 403 triệu chữ đôi quốc ngữ sẽ giúp thỏa măn nhu cầu chữ nghĩa trong thời đại phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật ngày nay, mà không phải lệ thuộc vào chữ nghĩa của người Tàu.
     Người Việt phải tự vạch cho ḿnh một con đường riêng, chớ không thể măi măi ở trong t́nh trạng lệ thuộc chữ nghĩa của Tàu. Người Việt cũng phải từ bỏ quan niệm sai lầm là chữ Hán Việt có tính cách bác học, hàn lâm, c̣n chữ Việt thuần có tính cách nôm na, quê mùa. Chữ nghĩa chỉ là phương tiện thông tin; không có chữ nghĩa nào là bác học hay quê mùa cả. Người Việt phải từ bỏ thói quen nh́n về một phương và chỉ thấy có một phương: nước Tàu và nền văn hóa đă lạc hậu của Tàu. Người Việt phải vượt qua Vạn lư Trường thành để nh́n ra bốn phương và thấy vẻ đẹp muôn màu của thế giới ngày nay.
     Đóng góp quan trọng nhứt của công tŕnh nghiên cứu của hai tác giả là khám phá ra trữ lượng khổng lồ hơn 403 triệu chữ đôi quốc ngữ, có thể giúp cho người Việt thoát khỏi sự lệ thuộc chữ nghĩa của Tàu, mỗi khi có nhu cầu về chữ mới. Thật là một thiếu sót nếu không ghi nhận sau cùng về các trích dẫn của hai tác giả nêu lên thường lấy từ các tác phẩm văn học nổi danh của các thời kỳ cùng các câu ca dao đầy chất t́nh tự dân tộc, sống động, đa dạng, đôi khi không kém phần trào lộng, làm sống lại những ngày xa xưa đối với các độc giả già nua, hoài cổ và tạo nên một nguồn sinh khí mới cho giới trẻ đang vươn lên tha thiết với nền văn học của đất nước.
     Đại gia đ́nh Quốc Gia Hành Chánh hân hoan đón nhận đóng góp cuối đời có giá trị lâu dài của đồng môn Cao Tấn Vỏ cùng với đồng tác giả Đinh Thiên Tứ trong công tŕnh nghiên cứu soi sáng ngôn ngữ Việt Nam.

     Đỗ Hải Minh
     Nam California
     Mùa Xuân 2006