Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Tiếp Cận Môi Sinh
Áp Dụng Cho Các Quốc Gia Đang Phát Triển

     Việc bảo vệ môi trường cùng những vấn nạn môi sinh là môt mối lưu tâm hàng đầu cho tất cả quốc gia trên thế giới trong thế kỷ thứ 21 nầy. Tùy theo tŕnh độ nhận thức của người dân, cấp lănh đạo, và sự phát triển khoa học-kỹ thuật, các quốc gia trên thế giới có thể được chia thành ba nhóm: 1- Nhóm 1, gồm Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), Tây Âu, Nhật, Úc...là những nước có nền kinh tế-khoa học-kỹ thuật vững mạnh và đă bắt đầu thành lập cơ quan bảo vệ môi trường từ những năm cuối của thập niên 70;  2- Nhóm 2, gồm những quốc gia tuy đă phát triển nhưng vừa mới tách rời khỏi hệ thống Cộng sản từ cuối thập niên 80 như Nga sô, các nước Trung Âu, Đông Âu và c̣n có tên là Quốc gia mới độc lập (New independent states);  3- Nhóm 3, gồm tất cả các nước đang phát triển c̣n lại trên thế giới. Tuy cường độ phát triển và dân trí cùng lănh đạo của các quốc gia thuộc nhóm 3 biến thiên khá phức tạp, nhưng tựu trung t́nh trạng môi sinh có nhiều điểm tương đối giống nhau dù có nhiều cách biệt về thời gian và trong việc nhận thức về bảo vệ môi trường. Nam Dương đă thiết lập luật môi trường từ đầu thập niên 80. Đa số quốc gia c̣n lại có luật trên vào những năm 90. Việt Nam, qua tài trợ của Ngân hàng Thế giới, đă phê chuẩn luật bảo vệ môi trường ngày 27/12/93.
     Trong phạm vi bài viết nầy, một số phương cách tiếp cận môi sinh của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới được tŕnh bày với hy vọng từ đó rút ra kinh nghiệm có thể được ứng dụng trong điều kiện VN.
     Trước hết, thiết nghĩ cần phân tích và rút tỉa kinh nghiệm từ phương cách làm luật, thi hành và giải quyết vấn nạn môi sinh của từng nhóm quốc gia điển h́nh.
     Nhóm quốc gia đă phát triển
     Hoa Kỳ và Nhật Bản là hai quốc gia cần được kể là có nền công-kỹ-nghệ tiến bộ nhất hiện nay và có chương tŕnh bảo vệ môi sinh tương đối hoàn chỉnh hơn tất cả. Từ khoảng giữa thập niên 70, Hoa kỳ đă thành lập các căn bản về luật bảo vệ môi trường (EPA), luật bảo vệ bầu khí quyển (Clean Air Act), luật bảo vệ nguồn nước (Clean Water Act), luật kiểm soát và bảo quản tài nguyên (Resource Control & Recovery Act), luật kiểm soát chất độc hại (Toxic substance Control Act), cùng nhiều luật lệ khác liên quan đến môi trường . Chỉ tính riêng cho luật môi trường, tất cả chi tiết quy định trong bộ luật, ngay cả các biệt lệ cũng đều ghi rơ trong bộ Code of Federal Regulations (40CFR) gồm 25 quyển, mỗi quyển trung b́nh khoảng 1000 trang chữ nhỏ. Và Bộ luật nầy được cập nhật hóa định kỳ từ hai tới bốn năm. Mọi vi phạm các quy định trên đều được kết án như tội đại h́nh và phải chịu h́nh phạt tù và bồi thường hiện kim rất nặng. Tuy nhiên v́ gánh nặng hành chánh, Hoa kỳ không đủ ngân sách để cung ứng cho việc kiểm soát và theo dơi vi phạm. Đứng trước t́nh trạng suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng bắt đầu ảnh hưởng lên cuộc sống người dân, cũng như sự kiện các tổ chức phi chánh phủ (NGO) như Sierra Club, Green Peace... tiếp tục vạch trần và cảnh báo t́nh trạng xuống cấp của môi sinh, chính phủ Hoa Kỳ trong những năm gần đây đă gia tăng ngân sách và nhân sự trong việc quản lư và bảo vệ môi trường. Kết quả trước mắt cho thấy các vi phạm đă giảm từ 546 vụ trong năm 1995 xuống 446 vụ năm 1997, trong đó 30% vi phạm là do các đại công ty kỹ nghệ. Trong năm 1999, EPA Hoa kỳ buộc các công ty kỹ nghệ trong nước Mỹ phải chi ra trên 3,6 tỷ mỹ kim cho việc tẩy rữa, tăng cường hệ thống kiểm soát ô nhiễm của từng cơ sở, và theo dơi cũng như giám định môi trường thường xuyên. Chính quyền cũng khuyến khích các cơ sở tự giám định mức độ ô nhiễm và có biện pháp thích nghi xử lư hơn là chờ đợi cơ quan kiểm soát môi trường đến làm biên bản vi phạm. Và nhờ vậy, trong cùng năm nầy, có 106 công ty đă làm công việc điều chỉnh vi phạm trên số 624 cơ sở được ghi nhận tạo ra ô nhiễm.
     Thêm nữa các luật lệ hiện hành được tu chính thường xuyên nhất là trong lănh vực xử lư phế thải kỹ nghệ. Một thí dụ là: định mức độc hại của arsenic trong nước uống đang được thảo luận để giảm từ 50ug/L xuống c̣n 10ug/L. Nước mưa trước kia được đưa thẳng ra biển, đang được nghiên cứu lại để xử lư trước khi thải hồi. Chi phí cho hai dự án trên theo ước tính sẽ lên đến hàng chục tỷ mỹ kim.
     Một điểm nổi bật nhất trong phương cách tiếp cận môi sinh mới của Hoa Kỳ là việc đẩy mạnh công nghệ áp dụng kỹ thuật gene để đáp ứng nhu cầu lương thực về nông nghiệp. Sự kiện nầy có mục đích gia tăng năng suất sản xuất và bảo đăm sức khỏe cho người tiêu dùng. Nhờ gia tăng năng suất hy vọng sẽ đáp ứng được nhu cầu gia tăng dân số trên thế giới, giải quyết những khó khăn do diện tích đất trồng bị hạn chế, giảm thiểu lượng phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nhất là nguồn nước tiêu dùng cho nông nghiệp. Thiết nghĩ, kỹ thuật gene sẽ khai phá một kỹ nguyên mới để giải đáp cho bài toán gia tăng dân số-lương thực, cân bằng môi sinh-giảm thiểu ô nhiễm, và nạn khan hiếm nguồn nước sinh hoạt được dự phóng sẽ thiếu hụt trên 50% trong 25 năm tới.
     Trong lúc đó, Nhật đă đi tiên phong trong việc cân bằng bài toán môi sinh và phát triển, dung ḥa được ảnh hưởng của môi trường lên kinh tế-kỹ nghệ-sản xuất. Chỉ riêng về công nghệ hóa chất, Nhật đă cố gắng kết hợp các đại công ty sản xuất hóa chất liên quan lẫn nhau như kỹ nghệ chất dẽo, nhuộm màu, hóa chất cơ bản... Các đại công ty riêng rẽ nầy sau khi tập hợp lại thành nhóm sẽ biến phó phẩm của một chu kỳ sản xuất thành nguyên vật liệu cho một chu kỳ sản xuất khác. Do đó, chất phế thải ngày càng bớt đi, giảm chi phí cho việc xử lư (giá thành sẽ hạ) và hạn chế được suy thoái môi trường. Đây là mục đích và là mục tiêu chính của việc h́nh thành các khu chế xuất hay khu công nghiệp.
     Nh́n chung Hoa kỳ vẫn là một quốc gia tiên phong chủ xướng cho kế hoạch toàn cầu hóa môi sinh để thích ứng với công cuộc phát triển thịnh vượng chung cho thế giới. Ngày 3/2/2000, Hoa kỳ đă đi thêm một bước trong tiến tŕnh nầy bằng cách kết nối được các cơ quan bảo vệ môi sinh trên thế giới như: EPA Hoa kỳ, Cơ quan Môi trường Âu châu-European Environment Agency (EEA), Chương tŕnh Liên Hiệp Quốc về Môi trường-UN Environment Programme (UNEP), Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Ư-National Research Council. Mục đích của việc kết hợp trên là khai triển quy định tiêu chuẩn, chuẩn bị cho một “Tập họp đa ngôn ngữ cho môi trường toàn cầu”-“multilingual global environmental thesaurus”.
     Nhóm quốc gia mới độc lập
     Đối với nhóm quốc gia mới vừa độc lập từ thập niên ’90, vấn đề môi sinh tương đối phức tạp và khó nhận diện chính xác v́ chính sách bưng bít của chế độ áp đặt lên các quốc gia trên trong một thời gian dài. Tuy nhiên một vài tai nạn kỹ nghệ như Cherbonyl ở Nga sô đă chứng minh tính cách lơ là trong việc bảo quản an toàn môi sinh tại các nước nầy. Thay v́ giáo dục và khuyến khích người dân trong việc bảo vệ môi trường, chính quyền chỉ đặt trọng tâm vào việc phát triển phục vụ cho nhu cầu quân sự và chiến lược. Trong kinh tế, họ chỉ nhắm vào việc phục vụ nhu cầu sinh sống tối thiểu cho người dân như thực phẩm, nông sản, ăn mặc.... mà không chú tâm vào việc cải tiến sản xuất hay giải quyết phế thải. Họ vẫn áp dụng những quy tŕnh cũ, cho ra nhiều phế phẩm so với các quy tŕnh công nghệ sạch v́ không đủ khả năng nhân sự và tài chánh cộng thêm tính ù ĺ cùng thái độ bảo thủ của cấp lănh đạo.
     Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, người dân các nước Trung, Đông Âu và các quốc gia trong liên bang Nga sô cũ vẫn c̣n tinh thần ỷ lại và xa lạ với vấn nạn môi sinh, vẫn mang định kiến là mọi việc phải do chính quyền giải quyết. Về phía chính quyền, một mặt đang bận rộn với những xáo trộn trật tự mới, và mặt khác muốn củng cố quyền lực, do đó hầu như bỏ quên các vấn đề môi sinh trước mắt. Chỉ vài năm sau đó, đứng trước nguy cơ ô nhiễm toàn vùng, cộng đồng Âu châu phải thành lập Chương tŕnh Hành động cho Môi sinh (Environmental Action Program) tại Lucerne (Thụy sỉ) năm 1993 để giải quyết các vấn đề trên trong thời gian chuyễn tiếp lên kinh tế thị trường từ kinh tế chỉ huy trong hệ thống cộng sản.
     Hàng tỷ mỹ kim tài trợ đă đổ vào các quốc gia trên, nhưng việc giăm thiểu ô nhiễm cũng như tiến độ giải quyết các vấn nạn tồn tại rất chậm chạp. Lư do chính yếu là người dân có thái độ bất hợp tác cũng như có khuynh hướng đánh giá thấp tầm quan trọng của vấn đề, và chính quyền vừa thiếu khả năng lại không đủ quyết tâm, chỉ chú trọng và ỷ lại vào sự giúp đỡ của “quốc tế”. Mặc dù vậy, một vài tiến bộ trong việc quản lư môi trường đă được quan sát tại các quốc gia như Czech, Estonia, Hungary, Poland, Slovenia. Theo ước tính của Cộng đồng Âu châu th́ các nước thuộc nhóm nầy phải cần thêm ít nhất 20 năm nữa mới có thể đáp ứng được tiêu chuẩn quy định. Slovenia đă tăng nhân sự cho Bộ Môi Trường từ con số 300 năm 1991 lên 1200 năm 1995. Ngược lại, Liên bang Nga, sau khi thành lập bộ nầy năm 1992, đă hạn chế nhân sự và không c̣n khả năng kiểm soát môi trường cho toàn lănh thổ v́ chính sách tản quyền về địa phương. Nga vẫn c̣n chôn phế thải nguyên tử dưới ḷng biển Bắc Hải và gần đây có vài chỉ dấu báo hiệu sự hiện diện của các phóng xạ trong vùng biển nầy. Tại Yogoslavia, do hành động vô trách nhiệm của một cơ sở khai thác mơ vàng, ngày 31/1/2000, khoảng 100 tấn cyanide đă bị thải hồi vào gịng sông Tisza, một phụ lưu của sông Danube. làm tiêu hủy trên 10.000 tấn cá và hủy hoại hệ thống môi trường cho một vùng lớn dọc theo ba quốc gia Yogoslavia, Hungary và Romania. (Cyanide và thủy ngân là hai nguyên vật liệu cần thiết trong công nghệ tách ly vàng ṛng từ quặng mơ). Sự kiện trên được chính quyền bản xứ báo cáo là một tai nạn trong khi chuyễn vận cyanide. Nhưng sau dó, hành động trên đă được lập lại vào giữa tháng 3/2000, và điều tra cho thấy là cơ sở trên đă thải hồi phế phẩm cyanide thẳng vào gịng sông không qua khâu xử lư.
     Tuy vậy, với nhận xét một cách khách quan và lạc quan, sau gần mười năm, nhờ sự trợ giúp tài chánh và kỹ thuật của Cộng đồng Âu châu và có thể do nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề môi sinh, các quốc gia tiền cộng sản trên đây đă làm giảm bớt ô nhiễm không khí hơn 30% trong khoăng thời gian từ 1989 đến 1996. Các khí được giăm thiểu là nitrigen oxide- NO, sulfur dioxide-SO2 . Điều nầy có thể được giải thích do sự hạn chế sản xuất cho kỹ nghệ chiến tranh so với thời kỳ cộng sản cầm quyền hơn là do kết quả của việc tăng cường bảo quản môi trường của các quốc gia trên.
     Các quốc gia đang phát triển
     Chính sách điều khiển và kiểm soát (command & control), đă được áp dụng triệt để ở những quốc gia có kỹ nghệ phát triển hoàn chỉnh. Nhờ tŕnh độ và dân trí người dân cao ở những nơi nầy, các luật lệ về bảo quản và xử lư môi trường được tuân thủ tương đối nghiêm chỉnh mặc dầu vẫn c̣n nhiều vi phạm, không phải v́ thiếu hiểu biết mà v́ chạy theo lợi nhuận và do đó cố t́nh che đậy hay giăm thiểu việc xử lư phế thải. Riêng đối với các quốc gia đang phát triển, việc áp dụng chính sách trên không đạt được hiệu năng mong muốn v́ những lư do chính sau đây:
     • Tŕnh độ giáo dục và dân trí của người dân ở những nước nầy c̣n quá thấp kém. Đa số người dân chưa h́nh dung việc xả rác, tiểu tiện...vào nguồn nước sinh hoạt là một việc làm sai trái vừa không hợp vệ sinh vừa làm ô nhiễm môi trường;
     • Đa số hệ thống sản xuất công nghệ nhất là công nghệ hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu rầy, kỹ nghệ dệt, thực phẩm v.v... vẫn c̣n áp dụng các quy tŕnh cũ và không có hệ thống xử lư phế thải;
     • Những quy định về quản lư môi trường chỉ có trên văn bản cơ bản của các bộ luật. Chính quyền chưa có đủ khả năng để khai triển chi tiết từng quy định một. Về nhân sự quản lư môi trường, hoặc v́ thiếu khả năng chuyên môn, hoặc v́ “móc ngoặc” mà t́nh trạng môi sinh ở những nơi nầy không thể được bảo quản bằng chính sách trên.
     Từ những lư do kể trên, các quốc gia đang phát triển, dù đă lần lượt thành lập cơ quan quản lư môi trường từ thập niên ‘80 trở đi, nhưng vẫn c̣n nhiều khó khăn trong việc áp dụng và thi hành luật.
Vấn đề c̣n quá mới mẻ đối với người dân và cả chính quyền. Một là, v́ thiếu khả năng và kinh nghiệm, thay v́ áp dụng các luật môi trường uyển chuyễn tùy theo thời điểm và địa phương, chính quyền đă áp dụng một cách máy móc chính sách điều khiển & kiễm soát. Hai là, hầu hết các luật định không được chấp hành nghiêm chỉnh do chính phủ không đủ hấp lực để thu hút nhân tâm và không tạo được sự tin tưởng nơi người dân. Ba là, nguồn tài lực và nhân sự chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu đ̣i hỏi. Bốn là, thái độ cửa quyền và nạn hối lộ ở khắp nơi là hai chướng ngại lớn làm mất hiệu năng trong việc áp dụng và thi hành luật định (thủ tục đầu tiên).
     Trước những cản ngại trên, Ngân hàng thế giới (World Bank) đă nghiên cứu một số phương cách tiếp cận môi sinh áp dụng tùy theo hoàn cảnh địa dư và t́nh h́nh chính trị cùng dân trí của một số quốc gia trong nhóm nầy. Và từ đầu thập niên ’90, phương án tiếp cận môi sinh sau đây đă được thành h́nh bằng cách phối hợp chính quyền, phương tiện truyền thông (media), các công ty sản xuất, cũng như thiết lập chính sách khen thưởng trong việc bảo vệ môi trường và sản xuất kinh te,á cùng ấn định giá biểu chi phí bảo quản môi trường cho từng định mức/nhóm loại thành phẩm sản xuất. Xin đan cử một vài trường hợp tiêu biểu sau đây để gợi ư cho việc đánh giá phương cách tiếp cận trên.
     1- Có thể nói Colombia là quốc gia đi đầu và thành công trong phương cách quản lư môi sinh nầy. Từ đầu thập niên ’90, Colombia đă có bộ luật môi trường với đầy đủ quy định. Nhưng cho đến 1995, 95% phế thải kỹ nghệ được thải hồi thẳng vào nguồn nước hay không khí mà không qua khâu xử lư. Chính quyền Colombia sau đó quy định lệ phí áp dụng cho các cơ sở sản xuất: 28$US/tấn cho phế thải hữu cơ có nhu cầu oxy-sinh hóa cao – biochemical oxygen demand (BOD), 12$US/tấn cho phế thải có chất rắn ḥa tan cao – total dissolved solids (TDS). Định mức nầy đủ cao để thúc đẩy các cơ sở cố gắng xử lư và giăm thiểu ô nhiễm, cũng như không quá cao để họ không có khả năng trả cho nhà nước. Kết quả cho thấy là chỉ trong ṿng sáu tháng sau khi áp dụng biện pháp trên, sông Rio Negro, ḍng sông chính tiếp nhận phế thải kỹ nghệ của Colombia đă giăm thiểu được 28% lượng chất hữu cơ phế thải. Sự thành công của chương tŕnh nầy đă được tăng cường do hệ thống thông tin mau chóng, làm tăng trái phiếu của nhà đầu tư.... Từ đó việc giăm thiểu phế thải kỹ nghệ được khích lệ và đẩy mạnh trong tất cả công nghệ trong quốc gia nầy.
     2- Trong trường hợp Indonesia, chính quyền đă áp dụng chính sách mới cho 187 cơ sở công nghệ chính. Tiêu chuẩn màu được dùng để định mức việc quản lư môi trường.
     - Màu vàng: cơ sở sử dụng công nghệ mới và sạch, có chương tŕnh giảm thiểu và pḥng ngừa ô nhiễm.
     - Màu xanh lá cây: cơ sở bảo quản tốt, định mức tiêu chuẩn phế thải thấp hơn quy định.
     - Màu xanh dương: cơ sở đạt được định mức tiêu chuẩn phế thải.
     - Màu đỏ: cơ sở có cố gắng pḥng ngừa ô nhiễm nhưng không đạt tiêu chuẩn.
     - Màu đen: cơ sở tạo ra ô nhiễm trầm trọng.
     Khi chính sách trên được đem ra áp dụng từ năm 1995, trên 2/3 cơ sở không đáp ứng được quy định. Chỉ có 5 cơ sở đạt được tiêu chuẩn “xanh lá cây” và được chính phủ trân trọng khen thưởng. Đối với các cơ sở vi phạm, chính quyền ra lệnh trong ṿng sáu tháng phải điều chỉnh t́nh trạng, nếu không sẽ bị công bố trước dư luận và có thể bị đóng cửa vĩnh viễn. Trong ṿng 18 tháng sau đó, có thêm 33 cơ sở đạt được tiêu chuẩn “xanh dương” và lượng phế thải giảm hơn 40% trên toàn quốc. Sau đó, Indonesia đă chính thức áp đặt chính sách trên cho hơn 2000 cơ sở kỹ nghệ chánh trong nước. Trước sự thành công của Indonesia, các quốc gia như Phi Luật Tân, Trung Quốc, Ấn Độ và Mễ Tây Cơ lần lượt áp dụng phương cách tiếp cận trên và làm giảm thiểu ô nhiễm nhiều hơn so với thời kỳ áp dụng chính sách điều khiển & kiểm soát.
     Điều đáng quan tâm là dù có các tiến bộ và cải cách tích cực trong việc bảo vệ môi trường và giăm thiểu ô nhiễm tại các quốc gia đang phát triển, nhiều mặt tiêu cực trong vấn nạn môi sinh cũng c̣n hiện diện. Tiêu biểu là Ấn Độ và các quốc gia Phi châu vẫn c̣n sử dụng một số lượng quan trọng thuốc sát trùng DDT để diệt muỗi mà không lưu ư đến mầm di hại có thể gây ra bịnh ung thư của hóa chất trên. Nên nhớ, DDT đă bị cấm sản xuất và sử dụng từ thập niên ’70. Việt Nam cũng c̣n sử dụng loại thuốc sát trùng nầy và gần đây nguồn nước mặt ở một vài địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đă có chỉ dấu báo hiệu sự hiện diện của DDT (0,11ug/L). Nam Dương vẫn dung dưỡng và tiếp tục đốt rừng trong mùa hè để lấy đất làm nông nghiệp. Việc cháy rừng do sấm sét chỉ chiếm một tỷ lệ thấp so với việc cố ư đốt rừng. Hàng năm vào mùa hè, khói tỏa từ Nam Dương đă che phủ cả bầu trời Mă Lai và Tân Gia Ba. Trung Quốc vẫn tiếp tục thải hồi phế thải kỹ nghệ vào nguồn nước ở thượng nguồn sông Cửu Long, nhất là khu đại kỹ nghệ hóa chất ở Vân Nam. Khí thải hồi chứa nhiều hóa chất độc hại đă di chuyễn đến tận ...Hoa kỳ. Việt Nam với trung tâm chế xuất Việt Tŕ (sản xuất hóa chất, acid, phân bón, thuốc trừ sâu , thuốc diệt cỏ dại...), mỏ than Quảng Ninh đă và đang làm ô nhiễm trầm trọng vùng sông ng̣i và vịnh Bắc Việt. Theo ước tính của Viện Hải dương học Nha trang th́ số lượng san hô ở vịnh Hạ Long có thể bị tiêu hủy trên 50%. Tại miền Nam, sông Đồng Nai, nguồn nước chính cho Sàig̣n và vùng phụ cận với hơn 10 triệu dân đă bị ô nhiễm trầm trọng do các khu chế xuất Đồng Nai, Sông Bé, công ty hóa chất và bột ngọt Sedan thải hồi phế phẩm. Theo tin AFP đánh đi ngày 6/4/2000, chính quyền đă báo động nguồn nước ở thượng nguồn thác Trị An đă bị ô nhiễm nặng do chất thải từ các nhà máy đường và công ty lên men thực phẩm làm hơn 50 tấn cá chết. Và bộ Môi trường đă báo động và cho điều tra để xử lư gấp trước khi nguồn nước được phân phối đến người dân thành phố (!). Và bao nhiêu “sự cố môi trường” đă và đang tiếp tục xảy ra cho Việt Nam mà người dân trong nước cũng như thế giới đă không được thông tin ?
      Lời kết
     Như đă nói ở phần dẫn nhập, luật môi trường của Việt Nam đă được quốc hội chấp thuận và đem vào áp dụng kể từ ngày 8/1/1994. Luật nầy gồm 7 chương và 55 điều như sau:
     • Chương I – Những quy định chung
     • Chương II – Pḥng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường
     • Chương III – Khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường
     • Chương IV – Quản lư nhà nước về bảo vệ môi trường
     • Chương V – Quan hệ quốc tế về baoi vệ môi trường
     • Chương VI – Khen thưởng và xử lư vi phạm
     • Chương VII – Điều khoản thi hành
     Ngoài luật lệ môi trường Việt Nam c̣n có một số luật khác liên quan đến môi trường như luật bảo vệ rừng, luật đất đai, luật dầu khí, luật đất lâm nghiệp. Nh́n chung, đây là một bộ luật nói lên quy định và chính sách tổng quát trong việc bảo vệ và xử lư môi trường. Cá nhân và cơ sở sản xuất kỹ nghệ không thể áp dụng văn bản của bộ luật môi trường nầy để chấp hành luật pháp trong sinh hoạt sản xuất được. Lư do là bộ luật minh định không rơ ràng và không có tính xuyên suốt. Chương IV điều 37 quy định rằng nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Điều 38 quy định bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường thực hiện chức năng quản lư nhà nước về bảo vệ môi trường. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lư nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương. Hai điều luật trên đây cho thấy tính mơ hồ và tṛng tréo về trách nhiệm trong việc quản lư môi trường. Ủy ban nhân dân dù không có khả năng chuyên môn vẫn có đầy đủ tư cách pháp nhân để giải quyết vấn nạn môi sinh. Và kinh nghiệm đă chứng minh rằng, cho đến hôm nay, 11 năm sau ngày ban hành, có rất nhiều “sự cố” quản lư ở địa phương đă xảy ra trong khi đi t́m phương án để giải quyết sự cố môi trường. Mặc dù khả năng nhân sự và tài chánh không cho phép Việt Nam thực hiện một bộ luật môi trường chi tiết áp dụng cho tất cả trường hợp-điều kiện như bộ luật của Hoa kỳ ( gồm trên 25000 trang giấy chữ nhỏ), thiết nghĩ Việt Nam cũng có khả năng làm một bộ luật chi tiết hơn một văn bản gồm 17 trang giấy như bộ luật hiện hành với chi phí hai triệu Mỹ kim do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Do đó việc học hỏi các xu hướng tiếp cận của những quốc gia có t́nh trạng môi trường xuống cấp tương tự như ở Việt Nam là một việc phải làm.
     Học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên cùng với cùng với phương cách tiếp cận mới của Nhật bản Việt Nam có thể thực hiện nguyên lư mới do Hội đồng Liên hiệp quốc về Môi sinh và Phát triển (UN World Commission on Environment & Development) đề xuất năm 1987. Ba tiêu chuẩn tất yếu cho sự phát triển bền vững cho từng quốc gia là: tạo dựng tăng trưởng kinh tế, cân bằng môi sinh, và tiến bộ xă hội. Cả ba yếu tố trên có tính liên đới và tầm quan trọng ngang nhau. Nếu căn cứ vào một lư do hay một nhu cầu khẩn thiết nào để biện minh cho việc thay đổi cân bằng trên, sự suy thoái môi trường có thể không xảy ra trong hiện tại, nhưng các thế hệ tương lai sẽ gánh chịu hậu quả không thể lường được. Đối với trường hợp Việt Nam, nếu đặt trọng tâm vào việc tăng trưởng kinh tế mà không lưu ư đến quản lư và bảo vệ môi trường, dĩ nhiên việc nầy sẽ làm tăng phúc lợi biểu kiến cho xă hội đương thời. Nhưng trong tương lai, hậu quả của tác động môi trường ảnh hưởng lên sức khỏe của người dân sẽ là một gánh nặng không c̣n phương cách cứu chữa.
     Viễn tượng tài nguyên bị cạn kiệt v́ sự khai thác quá độ để đáp ứng cho nhu cầu kinh tế cấp bách như: nạn phá rừng, đất đai bị tận dụng khai thác mà không có đủ thời gian để tái lập cân bằng tự nhiên của đất, sử dụng phân bón và thuốc sát trùng bừa băi, tận dụng nguồn nước mặt và nước ngầm mà không điều nghiên kỹ lưỡng đến tác động môi trường, không khí và nguồn nước bị ô nhiễm.... Việt Nam, nếu không t́m một phương cách tiếp cận mới để tạo dựng một sinh lộ cho tương lai th́ h́nh ảnh một dân tộc triền miên sống trong nghèo đói và không có sinh khí v́ thiếu dinh dưởng và bịnh hoạn sẽ không xa thực tế vậy. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào cuối tháng 2/2000, James Wolfensoln, chủ tịch Ngân hàng thế giới đă khuyên Việt Nam rằng: "Việt Nam cần phải thiết lập một nền kinh tế dựa trên cơ sở kiến thức". Đây là một thông điệp chiến lược về phát triển kinh tế áp dụng không những cho Việt Nam mà cho tất cả quốc gia đang phát triển. Cơ sở kiến thức là ǵ, nếu không là một cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật để thỏa măn ba yêu cầu phát triển do Liên hiệp quốc đề xuất. Thời đại cách mạng nông nghiệp đă qua rồi. Đổi mới để hội nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu mà chỉ dựa trên phát triển nông nghiệp để gia tăng phúc lợi cho đất nước chắc chắn không phải là một thượng sách cho Việt Nam ở thế kỷ thứ 21 nầy.

     Mai Thanh Truyết
     Hiệu Đính 5/2005