Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Nhớ Nhà Thơ Thanh Tâm Tuyền

     Từ Hoàng Liên Sơn, trong hang "Tuyệt T́nh Cốc" chúng tôi bị lùa lên xe chở về trại tù Hồng Ca, Yên Báy; lúc khoảng 10 giờ sáng tháng 12 năm 1977. Ở đây, Quân Đội bàn giao cho Công An. Kể từ ngày "tŕnh diện" ở trường Petrus Kư, bị lùa lên Trảng Lớn, bị đưa về Long Khánh, bị vụ nổ kho đạn tại Long Khánh rồi chuyển qua Long Giao, ngồi tàu thủy bảy ngày ra Bắc, chui vô toa xe lửa chở xi măng lên Yên Báy, qua phà Âu Lâu, chui vào hang "Tuyệt T́nh"... Chúng tôi đều ở dưới sự kèm kẹp của "Quân Đội Nhân Dân". Nhưng chuyến về lại Hồng Ca Yên Báy kỳ nầy th́ khác. Khi xe rẽ vào khu đất trống th́ chúng tôi thấy lố nhố toàn công an mặc đồng phục màu vàng. Lúc ấy là mùa đông, cho nên họ trang bị quần áo mùa đông đủ bộ để tŕnh diễn cũng như "" rất ư là "tâm lư chiến"! Chúng tôi được mở c̣ng, xuống xe, đem hành lư trải dưới ra cho "cán bộ" khám kỹ từng thứ. Lần đầu tiên gặp "áo vàng", có nghĩa là kể từ đây chúng tôi không c̣n sống với bộ đội mà đă được giao qua cho Bộ Công An quản lư. Kể từ cái ngày này, kỷ luật của áo vàng khác với áo xanh rất nhiều. Khi ở với áo xanh, h́nh như cũng là dân "lính" nên đối xử với nhau cũng rất "lính". Nhưng khi áo vàng đứng trước mặt th́... Hỡi ôi! đêm cô quạnh thảm sầu đă điểm!
     Một hôm đang cuốc đất trên đồi để trồng bắp cải, xu hào cho cán bộ, tôi gặp một người trông rất quen, mà cũng là rất lạ. Trông quen v́ h́nh như đă gặp ở đâu đó, lạ là v́ anh ta không ở trong nhóm đi chung từ hang "Tuyệt T́nh Cốc". Anh ta đang cúi xuống ôm cỏ cho vào hầm để làm "phân xanh". Anh gật đầu chào tôi, không nói, không quay lại lần thứ hai, xăm xăm bước về phía trước. Dáng gầy nghiêng nghiêng theo bó cỏ, chiếc nón lưỡi trai cũ, bên ngoài bộ áo tù màu xanh có sọc trắng là cái áo bằng bao cát, có lẽ anh mang từ trong Nam ra làm kỷ niệm. Hồi c̣n ở trong Nam, chúng tôi hay lấy bao cát may áo, may túi xách... Cũng nên nói qua về cái gọi là "phân xanh": Đó là tất cả cỏ, lá cây đem nhồi xuống một hầm, phủ đất lên trên, thời gian chừng ba tháng th́ cỏ và lá cây thành phân. Người ta đào hầm phân xanh lên đem bón cây, phân màu đen xanh. Lúc chúng tôi ở Bắc, phân xanh trộn với phân Bắc (phân của tù thải ra buổi tối trong thùng, buổi sáng gánh ra đồng ḥa với nước bón rau...) là độc nhất vô nhị để ta tự làm và tự ăn trở lại...
     Trở lại cái anh chàng vừa lạ vừa quen kia; khi chiều tối, tôi hỏi thăm mấy anh em trong lán 2, có biết anh ta là ai mà sao quen quá. Nhiều người nói thường gặp anh ta đi lao động với lán 4 nhưng ít khi nói chuyện hay chào thân mật v́ anh ta thường làm thinh và lánh mặt hay lảng tránh anh em tù ! Nhưng có một anh trong góc pḥng lớn tiếng nói: "A! mấy anh hỏi cái ông ốm tong bên lán 4 hả!  Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền chứ ai mà hỏi!" Cả lán 2 chúng tôi cùng "À" một tiếng. Có anh bên góc khác nói to: "Ủa! Sao lạ vậy cà! Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền th́ tôi biết mà sao kỳ nầy thấy khác quá không nh́n ra. Tánh ông ta là vậy đó, ít nói và cẩn thận lắm. Nhưng cũng có người cho là ngông. Thi sĩ có tài và có tiếng đều ngông và riêng Thanh Tâm Tuyền th́ tự cao...!" Lại có tiếng nói khác: "Mầy thử lấy gương soi mặt mầy xem mầy có nhận ra mầy hay không mà biểu ḿnh nh́n ra Thanh Tâm Tuyền sau bao nhiêu là nghiệt ngă... Vào trong nầy chẳng ai tin ai, thằng hay ông cũng thế! Ông ta chán đời không muốn giao thiệp th́ thôi, trách làm ǵ!"
     Mà quả là như thế! Đó là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Ngày hôm sau, khi anh ta ôm cỏ vượt qua chúng tôi, cả bọn đồng thanh: "Chào nhà thơ Thanh Tâm Tuyền!". Anh ta hơi bối rối quay lại chúng tôi, mỉm cười, cái đầu gật gật: " Chào! thơ với thẩn ǵ nữa!" Chỉ có thế rồi không gặp lại anh lần nào nữa trong thời gian chúng tôi cùng bị nhốt ở trại tù Hồng Ca Yên Báy. Đến khi cả một nửa số tù bị lên xe, hai người một cái c̣ng sắt (c̣ng do thợ rèn làm) di chuyển một ngày đường núi rừng trùng điệp ngoằn ngoèo để đến trại tù Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú th́ Thanh Tâm Tuyền và chúng tôi mới được ở chung một lán. Ở phân trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú, chúng tôi sinh hoạt với nhau lâu nhất cho đến khi anh bị lên xe chuyển trại vào một đem tối trời. Thanh Tâm Tuyền là một người anh hết sức điềm đạm, cẩn thận và hay... Đa nghi, có chút tự cao và kiêu hănh; nhưng là đối với cán bộ trẻ, quản giáo hay dạy đời theo bài học thuộc ḷng!. Có thể nói anh là mẫu người của T́nh Báo chứ không phải là tay văn chương thơ phú! Anh rất kín đáo, tâm sự có chừng có mực, khuyên bảo đàn em có t́nh có lư nhưng lúc nào cũng gieo vào đầu đàn em mấy chữ: "Đừng tin cho đến khi thực tế!" Anh hút thuốc lào và có một ống điếu cầy khắc con rồng mang từ Nam ra. Mỗi khi đến chỗ anh nằm, lấy cái điếu treo trên vách, xin anh một bi, hít một hơi dài rồi xỉn lăn... Anh cười: " Chú mày c̣n trẻ, hăy cẩn thận sức khỏe c̣n về với vợ con. Anh già rồi..." Tôi trả lời: Anh hơn em chỉ có sáu tuổi thôi mà cứ như là ông lăo tám mươi! Em là Hướng Đạo Sinh. Chỗ nào em cũng vui được, em không có buồn v́ cả nước đi ở tù chứ đâu phải một ḿnh ta! Anh nên thích ứng với hoàn cảnh để c̣n mai kia ta về làm lại vần thơ xưa..." Anh ngó tôi cười mỉm: "Chú mày hay nhỉ! vần thơ nay có không mà t́m thơ xưa!" Hai anh em cùng cười! Anh thường "được" cho ở trại không đi lao động để viết hàng mấy trăm tờ giấy về lư lịch và quá tŕnh hoạt động của anh. Không hiểu sao anh cứ bị viết đi viết lại hoài. Ngồi một ḿnh hút thuốc lào và viết cho đến chiều tối khi anh em lao động về mới được nghỉ...Anh Thanh Tâm Tuyền ngoài mặt có vẻ khinh đời như thế nhưng ở chốn riêng tư, anh là một người anh hết sức tuyệt vời. Anh hay dặn ḍ những điều mà đám sĩ quan trẻ hay xửng cồ căi nhau với "ḅ vàng". Anh nói, ḿnh đang nằm trong rọ, hăy kiên nhẫn và bắt chước Tôn Tẫn hay có khi cũng phải làm kẻ luồn trôn... Tóm lại, anh là một người anh rất mực kính quí của chúng tôi. Anh đổi trại một thời gian th́ tôi được về. Trước khi cho về, họ chuyển tôi đến K5 là phân trại chỉ huy. Nơi đó tôi gặp lại Thanh Tâm Tuyền trong thiếu thốn, tiều tụy... thiếu cả thuốc lào!
     Hôm trước khi nhận giấy ra trại, chúng tôi nghe anh bị một đội trưởng đội Lâm Sản tên là HĐĐ, Sĩ Quan Cảnh Sát thuộc Quận 10 Saigon, không biết lư do ǵ đánh anh Thanh Tâm Tuyền khi anh ta t́m vào chỗ của mấy người đó xin lửa hút thuốc lào(?) Chúng tôi bèn t́m đến nơi pḥng ngủ của HĐĐ hỏi tội và nói là về Saigon sẽ báo cho vợ hắn biết về hành động làm chó săn, đánh anh em tù như thế nào... Nhưng khi nghe tin ấy, anh TTT t́m đến chúng tôi và khẩn cầu đừng làm to chuyện. Theo anh th́ trong hoàn cảnh nầy đừng nên làm cho gia đ́nh của họ đau ḷng. V́ thế nên khi về Saigon, chúng tôi đă cho vụ đó ch́m xuồng!
     Sau này khi vô lại Nam và anh được trở về với gia đ́nh, chúng tôi không có dịp gặp lại nhau cho đến khi nghe anh qua định cư ở Minnesota. Thăm hỏi nhau một vài lần, nhưng h́nh như về sau nầy anh không muốn giao du hay tâm sự ǵ về cái quá khứ sầu đau kia nữa nên chúng tôi ít liên lạc nhau. Rồi năm vừa qua 2005, nhóm anh em tù K2 Tân Lập họp mặt bỏ túi tại nhà anh Nguyễn Quyết Thắng ở Nam Cali, chúng tôi có bàn tới anh Thanh Tâm Tuyền về cái bệnh phổi của anh. Anh em nói v́ trong tù anh Thanh Tâm Tuyền hút thuốc lào quá sức nên bị phổi.  Tôi phản đối v́ chẳng có ai trong tù mà không hút thuốc lào cả. Không biết sau nầy anh có bỏ hút hay không th́ chúng tôi có ai biết được!
     Nghe tin anh đă nằm xuống với cái tuổi 70 cũng là thọ rồi! Lúc vào tù chỉ có 40 tuổi thôi, cái tuổi đang lên như diều của một nhà thơ nổi tiếng và là một cây bút được cả nước ưa thích... Ôi! Thôi th́, chúng tôi, những đàn em từng đồng cam cộng khổ với anh trong các trại tù từ Nam ra Bắc; xin thắp nén hương ḷng thành tâm cầu chúc anh trở về với những vần thơ của chính anh! Nếu có linh thiêng, xin pḥ trợ cho mọi người trong những ngày c̣n lại được vuông tṛn. Anh hăy nhắm mắt lại yên nghỉ và cầu cho quê hương VN ta một tương lai như anh từng mong ước trong tù...!

     Đại diện anh em tù K2 Tân Lập Vĩnh Phú VN
     Lê Anh Dũng

Thanh Tâm Tuyền:
Tên thật Dzư Văn Tâm (1936-2006) Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1936 tại Vinh. Cựu sĩ quan VNCH định cư tại Minnesota Hoa Kỳ. Trước 1975, cùng Mai Thảo chủ trương tạp chí Sáng Tạo.
Tác phẩm đă xuất bản:
Tôi Không C̣n Cô Độc (thơ,1955)
Liên, Đêm, Mặt Trời T́m Thấy (thơ,1964)
Khuôn Mặt (truyện, 1964)
Bếp Lửa (truyện)
Dọc Đường (truyện, 1966)
Ba Chị Em (truyện, 1967)
Cát Lầy (truyện,1967)
Mù Khơi (truyện, 1970)
Tiếng Động (truyện,1970)
Tạp Ghi (1970)
Thơ Ở Đâu Xa (thơ, Hoa Kỳ)