Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Chương 6: TẢN QUYỀN HÀNH CHÁNH VÀ Ư NIỆM
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA VN TRONG TƯƠNG LAI

     A- NHỮNG TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ CỦA CHẾ ĐỘ LIÊN  BANG VÀ TẢN QUYỀN HÀNH CHÁNH:
     Về phương diện triết học", thể chế liên bang thể hiện tinh thần đa nguyên. Song hành với sự phân quyền chiều ngang giữa các chức năng nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp; chế độ chính trị liên bang có khuynh hướng phân bố các nghiệp vụ chính quyền xuống nhiều cấp địa phương khác nhau. Ở định nghĩa này thể chế liên bang hoàn toàn khác biệt và đối kháng với kiểu mẩu nhà nước thống nhất (tập quyền hay tản quyền) trong việc hành xử thẩm quyền tối thượng.
     1- Chế độ Liên bang thường là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử như trường hợp Hoa Kỳ với 13 tân quốc gia thoát thai từ 13 cựu thuộc địa cùng tranh đấu dành độc lập. Để có sức mạnh hợp nhất thương thảo độc lập với các nước châu Âu, Liên Hiệp Mỹ đă được thành lập, dẩn đến chế độ Liên Bang Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ với sự ban hành Hiến Pháp lịch sử 1787.
     Liên bang Đức cũng thoát thai từ Liên hiệp Bắc Đức thành lập năm 1867, trở thành Liên Bang Đức 4 năm sau. Năm 1933 dưới chế độ phát xít Hitler, là quốc gia thống nhất, để rồi trở lại chế độ liên bang năm 1949 dưới áp lực của Đồng Minh ở cả hai thể chế chính trị khác biệt Đông và Tây Đức. Nhờ đó sau biến cố phá sập bức tường Bá Linh và việc sát nhập Đông Đức vào Tây Đức, chế độ liên bang của nước Đức thống nhất vẩn được duy tŕ với 16 lander thay v́ 11 như trước.
     Liên Bang Thụy Sĩ cũng có hoàn cảnh tương tự. Liên Hiệp Thụy Sĩ đă tồn tại từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XVIII bao gồm 3 tiểu bang và 3 tổng cao nguyên (canton theo nghĩa đặc biệt ở quốc gia này). Năm 1798 trở thành nước Cộng ḥa thống nhất- một quốc tịch, với cuộc xâm lăng của người Pháp. Năm 1803 Bonaparte hồi phục chế độ liên hiệp. Năm 1815, toàn bộ 22 tổng được tự do đă dành lại chủ quyền riêng. Măi cho đến năm 1848, Hiến pháp mới được biểu quyết và chế độ Liên Hiệp (confédération) được chuyển thành Liên Bang (fédération).
     Hành tŕnh của thể chế liên bang hầu hết là những nổ lực t́m cách thống nhất quyền hành từ những chia xẻ manh mún với mục đích dành lại độc lập như ở Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hoặc thống nhất lảnh thổ quốc gia như ở Đức, hoặc để thống nhất thị trường như trường hợp Thụy Sĩ. Hướng tập quyền đó sẽ được tiếp nối bằng các nguyên tắc phân quyền giữa Chính phủ Liên bang và các Chính quyền Bang, thực hiện sự dung hoà cân bằng giữa thống nhất và dị thể (diversité)
     a.- Chế độ liên bang tồn tại chủ yếu trên nguyên tắc phân quyền giữa liên bang và tiểu bang. Về phương diện lập pháp, Quốc Hội Liên Bang có ưu thế hơn trong toàn lảnh thổ quốc gia, trong lúc các Quốc Hội Tiểu Bang hoặc lander chỉ có quyền lập pháp về các vấn đề địa phương. Các định chế chính quyền bang về các quyền lập pháp, hành chánh và tư pháp được bảo đảm bởi Hiến Pháp Liên Bang. Trên nguyên tắc, ở Đức luật liên bang có ưu thế áp đảo so với luật lander, nhưng nguyên tắc quyền lập pháp tương tranh cho phép các bang dành lấy những lảnh vực mà nhà nước liên bang ít có thói quen can thiệp vào. Nguyên tắc tương tranh dành ưu tiên can thiệp cho người nhúng tay đầu tiên trong thực tế đă dẩn đến một h́nh thái liên bang hợp tác trong đó các bang có nhiều lợi thế trong các lảnh vực cùng quyết định với liên bang, vừa ở những thẩm quyền tự trị riêng biệt. Do đó thông thường nếu không có sự đồng thuận của các bang, chính quyền liên bang thường bó tay không làm ǵ được.  Các đại biểu địa phương của các lander họp thành Bundesrat có h́nh thức tương tự như Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ. Ngoài ra, một  Hội đồng Bất thường  thường được triệu tập dưới quyền chủ tọa của Thủ Tướng Liên Bang bên cạnh các Bộ Trưởng-Chủ Tịch Bang. Hiến Pháp Liên Bang cũng dự liệu một cơ quan tài phán trong trường hợp có tranh cải giữa bang và liên bang. Đó là Ṭa Án Tối Cao ở Hoa Kỳ hay Ṭa Án Bảo Hiến ở Đức, có nhiệm vụ theo dỏi sự tôn trọng hiến pháp và xét xử các tranh tụng về các tính chất hợp hiến hay không.
     b.- Tính chất chủ yếu của loại h́nh chính trị này là nhà nước liên bang được ủy nhiệm quyền hành trực tiếp từ quần chúng để cùng với chính quyền bang ở cấp dưới quản trị các vấn đề quốc gia và địa phương. Có thể nói chính phủ liên bang trong thực tế đă bị cắt tỉa bớt không ít quyền hạn.  Nhưng trong tổng thể quyền lực này, tính chất phân công và phân quyền đă làm biến mất nơi các tiểu bang những thẩm quyền tối thượng (souveraineté) và trở thành một cấp địa phương chỉ có quyền tự trị mà thôi. Chế độ liên bang từ tính chất đó tập hợp các thực thể riêng lẻ không phải để làm chúng ḥa tan trong thể thống nhất, nhưng là để cân bằng sự thống nhất  trong đa nguyên, đa thể.
     Tưởng cũng cần gợi lên ở đây một ư niệm mới về liên bang văn hóa cùng tồn tại với liên bang lảnh thổ như trường hợp Bỉ.  Sự hiện diện của các bộ trưởng giáo dục riêng lẻ cho các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau thể hiện tính tự trị của một quần chúng kết hợp nhau bởi cùng dạng thức văn hóa chứ không phải là sự kết hợp lảnh thổ của một quần thể cư dân.
     2- Tản quyền:  cũng bao gồm ư nghĩa một sự phân quyền hàng dọc giữa trung ương và ngoại vi nói chung thực hiện qua các h́nh thức:
     - Điạ phương phân quyền hiện hữu trong tất cả các truyền thống hánh chánh của hầu khắp các chính quyền quốc gia. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt về tầm vóc quá nhỏ bé, chính quyền trung ương cai trị thông qua các chính quyền địa phương trách nhiệm những hoạt vực hành chánh mà tổ chức và thẩm quyền được qui định bởi luật pháp. Nền hành chánh điạ phương tùy hoàn cảnh địa lư chính trị khác biệt nhau từ quốc gia này qua quốc gia khác. Nhưng nh́n chung xă vẩn là đơn vị hành chánh căn bản. Trên xă có quận (liên xă) ở các nước Anh, Đan Mạch, Ái Nhĩ Lan, Hy Lạp, Áo, Thụy Điển, Na Uy, Hoà Lan, Bồ Đào Nha. Các nước khác như Pháp, Đức,Ư, Tây Ban Nha, Bỉ nền hành chánh điạ phương được chia thành 3 cấp Xă, Tỉnh và Vùng.
    - Tản quyền hành chánh được thực hiện nhiều hay ít, rộng hay hẹp tùy theo truyền thống hành chánh và hoàn cảnh thực tế. Nó bao gồm hai kỷ thuật:
      * Tản quyền chức năng: chuyển và ủy nhiệm một phần quyền lực trung ương cho các đại biểu ở địa phương như Tỉnh trưởng ở VN trước đây và các Préfet của Pháp hiện tại. H́nh thức tản quyền nghiệp vụ  cũng rất phổ biến liên quan đến việc chuyển một phần công vụ thuộc quyền trung ương ra ngoại vi hay điạ phương. Đó là trường hợp các Nha Sở cấp Vùng (Cảnh sát, Kinh tế...) ở VNCH cũ, Sở Văn khố của Bộ Ngoại giao Pháp ở Nantes, hay việc chuyển các trường Đại học Bách Khoa đến Palaisau, trường Quốc Gia Hành Chánh về Strasbourg... Ở Pháp các cơ sở công quyền bao gồm các trường  đại học và cả các pḥng thương mải, kỷ nghệ có tư cách pháp nhân và nhửng thẩm quyền đặc biệt.
    *Tản quyền địa hạt: khác với h́nh thái trung ương tản quyền ở phần trên. Tự bản chất, chia xẻ quyền hành với địa phương là một động tác phân quyền mặc thị trong đó chính quyền trung ương phải chấp nhận cho các điạ phương có những thẩm quyền tự quản nhất định nhân danh một định chế công quyền địa phương khác và tách biệt với nhà nước trung ương, bởi chúng có tư cách pháp nhân và quyền tự trị về hành chánh và ngân sách tài chánh. Ư nghĩa này bao gồm trong Luật Cải Tổ Nền Hành Chánh Pháp ngày 22.07.1982 hủy bỏ phần lớn quyền giám hộ hành chánh, tài chánh của các préfét trên các Hội đồng địa phương; đồng thời chuyển nhượng hầu hết thẩm quyền hành chánh từ tay vị đại biểu nhà nước này sang chủ tịch hội đồng vùng và tỉnh. Các vị đại diện dân cử này từ đây có toàn quyền chuẩn bị các quyết định sẽ đưa ra hội đồng, chủ tọa các cuộc tranh luận, thi hành các nghị quyết, đảm nhận vai tṛ chuẩn chi viên, lập ngân sách, hành xử quyền cảnh sát trong hoạt vực trách nhiệm và quan trọng nhất là quyền điều khiển các cơ quan hành chánh. Thẩm quyền kiểm soát các hành vi hành chánh của các préfét cũng bị giới hạn. Mất hẳn quyền giám hộ trực tiếp, các préfét chỉ c̣n thẩm quyền kháng cáo, trong thời hạn 2 tháng, các hành vi được xem là bất hợp pháp trước các Ṭa án Hành chánh mà thôi.
     a- Chế độ địa phương phân quyền  (tản quyền nói chung) rất khác biệt với chế độ liên bang trước hết do bản chất pháp lư. Tản quyền (nhiều hay ít) chỉ là sản phẩm của luật, về tổ chức cũng như thẩm quyền điều hành, để các cấp điạ phương có thể hoạt động hữu hiệu và đạt hiệu năng hành chánh cao nhất. Trong lúc đó chế độ liên bang được qui định bởi Hiến pháp. Những định chế tổ chức liên quan cũng có tính hiến định. Do đó về phương diện pháp lư, một Tiểu bang, Canton hay Lander có trong tay toàn bộ thẩm quyền về các vấn đề của họ, kể cả quyền lập pháp trong qui định của hiến pháp liên bang. Một vài trường hợp độc đáo là bang Bavière của  Đức và tiểu bang Texas của Mỹ c̣n đi xa hơn về quyền tự trị, đă xây dựng cả những bản hiến pháp riêng. Tuyên ngôn nổi tiếng liên quan đến 10 tu chính án đầu tiên của Hiến Pháp Hoa Kỳ cũng mượn từ hiến pháp một vài tiểu bang mà quan trọng nhất là Tuyên Ngôn Virginie năm 1776... Ngược lại, ở các quốc gia có chế độ nhà nước duy nhất như Pháp, Anh, Hoà Lan, Đan Mạch, Luxembourg...các nghị viện vùng chỉ có thẩm quyền quyết nghị theo nguyên tắc lập qui hành chánh về các vấn đề địa phương trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Hiến Pháp Đệ Ngủ Cộng Ḥa v́ vậy dự liệu ở điều 72 mục 2: "các hội đồng dân cử toàn quyền tự quản các điạ phương trong những điều kiện do luật pháp qui định"
     b- Về vị trí của Vùng:  trong tổ chức hành chánh, tùy theo truyền thống, có nhửng thẩm quyền và chức năng khác biệt giữa các nước chiụ ảnh hưởng truyền thống hành chánh Pháp (tương đối yếu so với trung ương và cả những điạ phương dưới quyền), ngược lại ở các nước theo truyền thống Đức cấp vùng đóng một vai tṛ rất quan trọng và tập trung trong tay những quyền hạn mạnh mẻ. Những vùng hưởng qui chế đặc biệt ở Ư và Tây Ban Nha cũng được hiến pháp qui định cho những thẩm quyền lập pháp về những vấn đề riêng biệt của điạ phương.
     Kể từ sau thế chiến thứ hai, vị trí của cấp vùng ngày càng quan trọng, do đó sự phân vùng và định chế hoá cấp vùng thành đơn vị hành chánh điạ phương đă trở thành một xu hướng tất yếu ở hầu hết các quốc gia. Những lư do có thể khác biệt nhau nhưng nh́n chung nhằm thỏa mản những đ̣i hỏi ly khai của những sắc dân thiểu số (và cả đa số ở trường hợp Bỉ về phương diện văn hóa). Khuynh hướng này rất rơ nét nơi các quốc gia chịu ảnh hưởng truyền thống hành chánh Pháp. Ở Ư chẳng hạn, để chống lại khuynh hướng ly khai của vùng Sicile và nhửng đ̣i hỏi tự trị của các khu vực ngoại vi khác, hiến pháp 1947 đă ra tay trước bằng cách thiết lập các Vùng có qui chế đặc biệt (Sicile, Sardaigne, Frioul-Vénétie Julienne,Val d'Aoste, Trentin-Haut Adige) có thẩm quyền tự trị rộng rải về chính trị và quản trị. Các Vùng c̣n lại theo qui chế thường có quyền tự quản hành chánh và cả quyền lập pháp phụ thuộc. Trường hợp những vùng tự trị đặc biệt như Sicile, dù được ban cho những thẩm quyền ngoại lệ về lập pháp; nhưng nhà nước trung ương vẩn giới hạn thẩm quyền này thông qua những qui định hiến pháp về qui chế riêng cho vùng).
     Ở Tây Ban Nha, Hiến Pháp 1978 cũng đă ban bố qui chế "những cộng đồng tự trị do hoàn cảnh lịch sử" từ sự hiện hữu của những đe dọa ly khai của các xứ Basque, Catalogne và cho cả xứ Galice v́ dự kiến. Các xứ này được hưởng những thẩm quyền tự trị khá rộng rải.
     Ở Pháp, cấp vùng nảy sinh trong thế chiến thứ nhất do nhu cầu tổ chức kinh tế thời chiến. Đến thời kỳ chiếm đóng Đức, thêm nhu cầu duy tŕ an ninh trật tự, sau đó đi đến định chế hoá cuối thời đệ IV đầu đệ V Cộng Hoà do sự phát triển của chính sách hoạch định kinh tế. Các vấn đề phát triển kinh tế song hành với tái chỉnh trang lảnh thổ trở nên quan trọng. Năm 1954, Ủy Ban Phát Triển được thành lập đóng chức năng người đối thoại chính thức với các nhà chức trách hành chánh. Năm 1955 ban hành sắc lệnh thành lập những "Vùng Kế Hoạch" chuyển thành "Hoạt Vực Vùng" (tất cả 22 đơn vị). Năm 1964 định chế hoá các préfét vùng bên cạnh bộ tham mưu nhỏ về sau biến thành "Ủy Ban Phát Triển Kinh Tế Vùng" Co.D.E.R. làm cơ quan tư vấn. Luật 05.7.72 thiết lập Hội Đồng Vùng làm cơ quan quyết nghị có chức năng bảo đảm ngân sách vùng nhằm phát triển kinh tế, xă hội và văn hoá khu vực. Trước cuộc đại cải tổ hành chánh 1982, cấp vùng vẩn c̣n mang qui chế cơ quan công quyền trước khi hưởng qui chế điạ phương phân quyền.
     c- Về quyền hạn của các cơ cấu hành chánh điạ phương:
       Nh́n chung không có nhiều khác biệt giữa các quốc gia phát triển. Các cấp điạ phương ngoài những thẩm quyền được ủy nhiệm chuyên biệt thường phụ trách các vấn đề đô thị hoá, lưu thông, giao thông chuyên chở và học đường.
     Cấp Xă là đơn vị hành chánh căn bản quan trọng nhất. Phương thức hoạt đông của xă  có thay đổi chút ít tùy theo các truyền thống hành chánh. Ở các xứ Benelux  hành pháp do quốc trưởng chỉ định chiếu theo đề nghị của hội đồng xă theo kiểu mẩu hành chánh Pháp cổ. Ở Đức, nhiều phương thức điều hành khác nhau giữa các Lander. Ở Bade-Wirtinburg, Rhénanie-Palatinat theo kiểu Pháp, có nghị viện và hành pháp tập trung tương đối mạnh. Các bang ở Bắc Đức theo mẩu Anh với người trách nhiệm hành chánh có thực quyền hành pháp. Bang Bavière lại chọn kiểu mẩu Bắc Mỷ với nguyên tắc phân quyền và thị trưởng do dân bầu trực tiếp. Bang Hesse lại theo mẩu Benelux với người phụ trách hành pháp chỉ định...
     - Ở Anh, các cấp xă (và quận) được tổ chức theo qui mô lớn hơn ở lục điạ nắm trong tay hai chức năng khác biệt:
     - Hệt như ở Đức, thi hành các chính sách của chính phủ.
     - Bên cạnh đó được ủy nhiệm nhửng quyền lớn hơn nhằm thực thi các lảnh vực quan trọng về giáo dục, nhà ở và an sinh xă hội.
     Tuy nhiên vẩn theo truyền thống hành chánh Anh, sự ủy nhiệm này mong manh v́ những thẩm quyền liên hệ có thể bị qui trách bất cứ lúc nào, do cơ chế giám hộ chặt chẻ.
     Cấp Tỉnh (hoặc quận  ở một số quốc gia) là đơn vị hành chánh trung gian giữa xă với vùng hoặc giữa xă với chính quyền trung ương. Quyền hạn của tỉnh không nhất định, tùy theo trường hợp có bị giám hộ bởi cấp vùng hay không. Đối với các siêu xă (có tầm vóc và hoạt vực lớn) tỉnh thường bị tranh quyền về phương diện đô thị.
     Cấp Vùng có những thẩm quyền  đặc biệt quan trọng, đặc biệt đối với những vùng hưởng qui chế đặc biệt hoặc tự trị như ở Ư, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Trong chế độ Liên Bang Đức, cấp vùng là các Lander sở đắc những quyền hạn lớn. Các đại biểu bang trong Bundesrat tuy chỉ đóng vai tṛ tư vấn của một thượng nghị viện nhưng thực tế họ tham gia tích cực vào đời sống chính trị quốc gia. Ngoài ra họ c̣n thi hành chính sách và luật liên bang thông qua bộ máy hành chánh bang với một nhân số khổng lồ lớn gấp 5 lần tổng số công chức liên bang. Trong quyền hạn của Lander, họ trực tiếp giám sát các hoạt động của quận và xă dưới quyền, tuy vẩn tôn trọng tính tự quản thực sự cuả các cấp này thông qua nguyên tắc phụ đính về ưu tiên đảm trách các lảnh vực không được xác định rỏ (subsidiarité).
     Cấp Vùng ở Pháp có quyền hạn tương đối yếu đối với chính quyền trung ương và cả với cấp Tỉnh (département) do thủ tục bầu cử trực tiếp các nghị viên tỉnh cho họ một uy thế chính trị mạnh và đồng nhất hơn các nghị viên hội đồng vùng được bầu theo lối tỉ lệ dựa trên đơn vị tỉnh.
     Luật Cải Tổ Nền Hành Chánh Pháp năm 1982 cũng thiết lập một định chế giám sát mới là các pḥng kiểm toán cấp vùng, phụ trách các pháp chế tài chánh, sẳn sàng can thiệp nếu ngân sách địa phương không được biểu quyết trong thời hạn hợp lệ, không thực sự cân đối, không dự liệu những phương tiện cần thiết đáp ứng những nhu cầu chi tiêu khẩn thiết bắt buộc, hay không thi hành đúng theo các biểu quyết tiên khởi. Pḥng cũng có quyền hạn lập những phán quyết về các ngân khoản chi thu trong kế toán điạ phương.
     Sự giám hộ cũng được thực hiện từ chính quyền trung ương qua các đại biểu nằm tại điạ phương là các préfét. Nhưng những tranh tụng pháp lư khởi phát từ chức quyền giám hộ này chỉ thực hiện sau những tiếp xúc thường là khẩn cấp và gay gắt  với các nhà chức trách hành chánh địa phương (chủ tịch và các hội đồng).
     Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây một nét đặc biệt của nền hành chánh địa phương Pháp là Luật ban hành ngày 07.3.83 ấn định những thẩm quyền mới đồng nhất cho cả 3 cấp Vùng Tỉnh Xă  liên quan đến các phương diện hoạch định kinh tế khu vực, phát triển kinh tế, chỉnh trang lảnh thổ, đô thị hoá, bảo tồn di sản và thắng cảnh, nhà ở và huấn luyện nghiệp vụ (Ở Cộng Ḥa Liên Bang Đức, các thẩm quyền toàn bộ về cảnh sát, giáo dục thuộc về cấp Vùng- các Lander).
      B-  THỰC TẾ HÀNH CHÁNH VIỆT NAM VÀ NHỮNG KHẢ NĂNG CẢI TỔ
      Địa phương phân quyền và tản quyền là những nguyên tắc tổ chức căn bản của mọi nền hành chánh công quyền. Các quốc gia dù ở thể chế liên bang hay phân vùng vẩn có khuynh hướng bảo tồn  chủ quyền tối thượng ở trung ương; nhưng để đạt hiệu năng hành chánh cao nhất, vấn đề phân quyền giữa trung ương và địa phương thường đặt ra nhu cầu t́m kiếm những nguyên tắc tản quyền hợp lư để các nền hành chánh địa phương có thể vừa thi hành luật lệ, chính sách của nhà nước trung ương vừa tự quản thích đáng các vấn đề nội bộ của ḿnh. Hầu như tất cả các quốc gia đều lấy Xă làm đơn vị hành chánh căn bản, do đó thẩm quyền tự quản thường có những nét chung nhất về tư cách pháp nhân và tự trị tài chánh. Cấp Liên Xă (gọi chung là quận như ở Đức và Anh) hoặc Tỉnh ở các nước theo truyền thống hành chánh Pháp là đơn vị trung gian, cũng đă hiện diện từ lâu đời trong các nền hành chánh. Chỉ có cấp vùng thể hiện rơ rệt nhất ư niệm tản quyền nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của những xă hội mới và tiến bộ về mọi mặt. Những khuynh hướng tản quyền v́ vậy mang những sắc thái khác biệt nhau tùy hoàn cảnh chính trị-xă hội riêng của các quốc gia, để đối phó với t́nh h́nh đặc biệt gây ra bởi các đ̣i hỏi ly khai lảnh thổ của các sắc tộc như ở Ư, Tây Ban Nha, hoặc tự trị văn hoá giáo dục nơi các cộng đồng ngôn ngữ Bỉ. Nhưng tản quyền phần lớn nhắm đáp ứng những nhu cầu phát triển kinh tế và xă hội.
     Ở Việt Nam trước đây các chế độ điạ phương phân quyền cũng đă được thực hiện với các cấp Tỉnh-Thành phố, Xă là những đơn vị hành chánh căn bản có tư cách pháp nhân và ngân sách tự trị. Quận chỉ là một đơn vị hành chánh trung gian đại diện cho thẩm quyền tỉnh giám sát và điều hợp các xă dưới quyền. Cấp Vùng tập trung các nha sở được trung ương ủy quyền và chỉ nhằm điều hợp các hoạt động chuyên môn trực thuộc chứ không có quyền giám hộ đúng nghĩa đối với chính quyền tỉnh mà Tỉnh Trưởng là đại diện của Tổng Thống ở địa phương. Tuy nhiên trong khung cảnh chiến tranh, các chính quyền nói chung thường mang tính chất các nhà nước quân sự; do đó phân quyền và tản quyền cũng chỉ nhắm những mục tiêu an ninh lảnh thổ hơn là sự hữu hiệu của các cơ cấu hành chánh điạ phương.
     Chế độ cộng sản với ư niệm chuyên chính của giai cấp c̣n tệ hại hơn trong các cố gắng tập quyền toàn trị vào các cấp ủy đảng đă phá nát các truyền thống hành chánh. Chính phủ trung ương chỉ là một tập hợp những trung ương ủy viên trung thành với chũ nghĩa hơn là lảnh đạo các nghiệp vụ chuyên môn, và chỉ nhắm thi hành sát sao các chỉ thị nghị quyết của bộ chính trị và ban bí thư. Ở ngoại vi các Tỉnh đảng bộ và các Thị, Xă ủy trở thành những sứ quân có nhửng thẩm quyền tuyệt đối, vô giới hạn bao trùm trên các Ủy ban nhân dân. Nền hành chánh nếu hiểu theo nghĩa bao gồm cơ quan quyết nghị (đảng) và hành chánh (ủy ban nhân dân đóng vai tṛ thừa hành)  vừa mang tính chất tập quyền triệt để về trung ương ở đầu nảo bộ chính trị bởi tính chất nhất quán và tuyệt đối  của các nghị quyết, vừa mang tính tản quyền quá rộng rải đến trở thành tản mạn, nhiều khi bất chấp hiến pháp và luật pháp nơi các đảng bộ địa phương.
     Tổ chức lại nền hành chánh Việt Nam trong khuôn khổ một nền dân chủ pháp trị với những phương hướng tản quyền rộng rải là một chủ đề quan trọng.
     Ư niệm về hai cơ cấu tổ chức và điều hành của chế độ (chính trị) liên bang và nền hành chánh tản quyền tuy có những điểm trùng hợp về phân quyền giữa trung ương và ngoại vi, nhưng thuộc về hai thể chế chính trị khác biệt mà sự chọn lựa có thể đưa đến những hậu qủa chính trị hoàn toàn khác nhau. Những thâm cứu thuộc thẩm quyền chuyên gia của các bậc thức giả sẽ rất cần thiết cho những thảo luận lập hiến và lập pháp với những quốc hội tương lai. Ở đây, người viết chỉ có thể tŕnh bày những nét chính của hai định chế và tổ chức khác biệt; đồng thời những suy nghĩ gợi ư về thực tế hành chánh Việt Nam và những đường hướng tản quyền có thể thực hiện được.
    1. Liên bang hay Tản quyền ?
    Các chế độ liên bang trên thế giới phát sinh từ những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trong đó các bang đă hiện hữu từ lâu trước khi có nhà nước (trường hợp 13 tiểu bang của Hoa Kỳ, các lander của Đức và các canton của Thụy Sĩ). Liên bang do đó là thể chế chính trị bắt buộc phải chọn lựa để h́nh thành một nhà nước thống nhất trong cố gắng tập quyền, đồng thời bảo đảm những thẩm quyền tự trị và tự quản căn bản cho các bang giải quyết tốt đẹp nhất những vấn đề riêng lẻ của ḿnh. Thời Pháp thuộc nhằm thực hiện âm mưu chia để trị, người Pháp đă chia cắt nước VN làm 3 Kỳ, ban cho chúng những qui chế khác nhau. Nhưng đó chỉ là ngẩu cảnh của lịch sử, mang tính áp đặt từ bên ngoài chứ không hề xuất phát từ ư nguyện của quần chúng; v́ người Bắc, người Trung, người Nam dù mang vài đặc tính khác nhau do phong thổ, giọng nói, đều chia xẻ chung một ngôn ngữ, chử viết , và một nền văn hóa Việt đă trường tồn qua các biến thiên lịch sử.Tuy nhiên, giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số (quan trọng nhất là các sắc dân Tây Nguyên và Việt Bắc) lại có sự cách biệt khá xa về môi trường sống và mức độ phát triển. Người Việt gốc Khmer không xa cách bao nhiêu với dân chúng miền đồng bằng sông Cửu Long và đă chứng tỏ qua lịch sử khá lâu dài một khả năng chung sống ḥa b́nh. Ư thức quốc gia đă bao trùm tất cả các sắc tộc Kinh và Thiểu số trong suốt gịng  lịch sử. Điều kiện Việt Nam không hề có một nét tương hợp nào với chế độ liên bang. Những khuynh hướng ly khai Nam-Bắc xuất hiện trong thời gian gần đây ỏ VN xét cho cùng chỉ nảy sinh từ một ngẩu cảnh đáng buồn của những tương tranh quyền lợi và quyền lực trong một giai đoạn lịch sử tối tăm mà lư lịch quốc gia hầu như đă tan biến v́ sự ngự trị cùng khắp của những hèn mọn cá nhân và bè đảng.
     Phong trào Fulro xuất hiện dưới thời VNCH có thể do những tác động đặc biệt của thời cuộc; nhưng ở một phạm trù trong suốt, nguyện vọng của những sắc tộc người Tây Nguyên đang sống tối tăm bên lề ḍng tiến hoá của dân tộc là hợp lư. Quên lảng số phận họ dù vô t́nh hay cố ư là lổi lầm nghiêm trọng của những người có trách nhiệm và có thể gây ra những hậu quả lịch sử tai hại. Nhưng hiện tượng "Mặt Trận Thống Nhất Giải Phóng Những Dân Tộc Bị Áp Bức" đă hàm ư trong danh xưng tính quá khích nguy hiểm cho những giải pháp ḥa dịu có thể t́m kiếm được. Cho nên những gợi ư, nếu có, về một Liên Bang VN trong bối cảnh vô cùng chao đảo của t́nh tự dân tộc hiện tại cọng với những nhận thức chính trị chưa đủ độ chín sẽ làm bùng nổ dây chuyền những khuynh hướng ly khai, chính đáng và không chính đáng. Sẽ rất không may cho dân tộc VN nếu một mai thoát khỏi ách độc tài toàn trị chuyên chính, đất nước lại rơi vào những tranh chấp điạ phương, đ̣i hỏi ly khai, những âm mưu chia rẽ, kỳ thị Bắc - Nam bên cạnh những chia rẽ tôn giáo... Chủ nghĩa Liên bang thể hiện một h́nh thái tổ chức dân chủ ở một tŕnh độ cao, và có nhiều khả năng làm xuất hiện những xă hội dân sự chính đáng. Nhưng với một điều kiện chủ yếu phải thể hiện được nguyện vọng về một lư lịch quốc gia đại diện bởi nhà nước thống nhất ở trung ương. Đó là hành tŕnh tập quyền cho những vùng thuộc địa trở thành những tân tiểu bang manh mún thời lập quốc Hoa Kỳ, hoặc do hoàn cảnh thăng trầm của lịch sử bị xé thành từng mảnh như trường hợp Đức quốc...Phân tích như vậy để thấy rằng ư niệm liên bang không hề trùng hợp với hiện trạng VN và tiến tŕnh h́nh thành của nó cả về hai phương diện nội tại lẩn khách quan...
     Chỉ có vấn đề  có thể phải đặt ra là những quốc hội VN tương lai sẽ phải cứu xét cặn kẻ một qui chế  đặc biệt  cho các vùng Tây Nguyên, Việt Bắc, trong khung khổ hiến pháp và dưới quyền giám hộ của một định chế hiến pháp là "Hội Đồng Phát Triển Quốc Gia" với mục đích giúp các sắc tộc thiểu số điều hành hiệu quả các vấn đề phát triển dân trí, dân sinh, văn hoá, chỉnh trang lảnh thổ; bảo đảm một sức phát triển nhanh về kinh tế hầu thu ngắn cách biệt với các miền trù phú khác của đất nước. Các phần đất c̣n lại nên được tập hợp thành những cấp Vùng dựa trên những định chuẩn liên địa có những điều kiện địa lư nhân văn gần giống nhau, những tài nguyên bổ trợ, và  tiềm lực cọng sinh phát triển hiệu qủa nhất. Vấn đề phân vùng đ̣i hỏi những công tŕnh nghiên cứu công phu, cặn kẻ, lâu dài liên quan đến các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xả hội, nhân văn; về mọi mặt tổ chức, thẩm quyền điều hành. Quan trọng nhất vẩn là vấn đề kiểm soát, giám hộ của nhà nước trung ương trong khuôn khổ luật pháp quốc gia qui định. Những định hướng lớn của công tŕnh cải tổ sẽ được định chế hoá bởi Hiến Pháp; v́ vậy tùy thuộc khả năng những nhà lập hiến và  lập pháp khai sáng nền dân chủ tương lai. Một vài ư niệm rất dể nhận ra có thể dùng làm tiền đề cho đề nghị hợp lư này là một miền Đông Nam Phần có những đặc tính, sắc thái địa lư, nhân văn và nhu cầu phát triển không giống miền Tây Nam hay miền Đồng Bằng Sông Cửu Long. Phong thổ, địa h́nh và giọng nói, từ đó khởi phát những yếu tố phát triển cũng khác nhau giữa các miền bắc, trung và nam Trung Nguyên Trung Phần chia cách nhau bởi đèo Hải Vân và đèo Cả. Cũng thế, miền Châu Thổ Sông Hồng không giống miền Trung Du, khác với miền Tây Bắc Sơn La, Lai Châu và Đông Bắc dồi dào hầm mỏ, bến cảng, thắng cảnh trải dài từ Hải Pḥng lên Quảng Ninh, Cẩm Phả...
      2. Những định hướng về tản quyền có khả năng thực hiện được ở VN:
     a.- Những nhà nước vẩn luôn luôn quan trọng và đóng vai tṛ quyết định. Cho dù một hướng dân chủ hoá nào cũng phải thông qua sự phát triển đúng tầm mức của những xă hội dân sự, nhưng những xă hội ấy không bao trùm trong khuynh hướng áp đảo hoặc triệt tiêu nhà nước mà ngược lại chỉ đóng vai tṛ bổ trợ để đảm nhận những chức năng phát triển kinh tế, xă hội, văn hóa mà chính quyền không nên và không thể can thiệp vào. Vai tṛ của nhà nước (và chính quyền trung ương ở trường hợp liên bang) trên lư thuyết ngày càng thu hẹp trong tiến tŕnh dân chủ hoá cao độ. Trong thực tế, ngoài những lảnh vực tuyệt đối dành riêng như quốc pḥng, nội vụ, tiền tệ và cả giáo dục, các Nhà nước của  những quốc gia dân chủ tiến bộ nhất lại chứng tỏ khuynh hướng can thiệp ngày càng nhiều vào các lảnh vực kinh tế xă hội song hành với sự phát triển tối đa các hoạt động của xă hội dân sự. Ở những nước đang phát triển, vai tṛ của Nhà nước càng quan trọng hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện tại, khi mà các công ty đa quốc gia đang nắm trong tay sinh mạng của nhiều nền kinh tế. Trong một chừng mực nào đó, nếu các nhà nước sở tại không triển khai được những can thiệp đúng hướng, quyền lợi quốc gia chắc chắn sẽ bị phương hại. Trường hợp những con rồng Đông Á đă chứng tỏ khuynh hướng và khả năng đó. Các nhà nước Mể Tây Cơ, Ba Tây... cũng không thể làm khác được!
      Giữa bối cảnh thế giới của những năm 2000, Nhà Nước VN sẽ c̣n phải làm những nổ lực tối đa để đưa đất nước cất cánh theo những con rồng, con cọp lân bang nếu không muốn bị tụt hậu vĩnh viển. Vấn đề hành chánh nội trị do đó sẽ đóng vai tṛ quyết định cho những bước nhảy vọt. Tản quyền rộng có kiểm soát cho các Vùng đảm trách lấy công tác chỉnh trang lảnh thổ để đô thị hoá, nâng cao dân trí hổ trợ quyết định cho sự phát triển vùng và quốc gia là định hướng cốt tủy. Các vấn đề nội bộ như giao thông, công chánh, an sinh xă hội, nhà ở, hợp tác xă, giáo dục phổ thông và cảnh sát (lưu thông, giữ ǵn trật tự) trong lảnh thổ Vùng thuộc thẩm quyền quyết nghị của các nghị viện và sẽ do các nhà chức trách hành chánh Vùng thực hiện.
     Cũng nên để cho những vùng có qui chế đặc biệt như Tây Nguyên, Tây Bắc và  Đông Bắc có thẩm quyền lập qui rộng rải về các vấn đề riêng biệt liên quan đến các ṭa án phong tục các cấp vùng, tỉnh, quận hoặc liên quận, về văn hóa sắc tộc, tổ chức giáo dục phù hợp nhất với phong tục tập quán của họ; nhằm bài trừ những mê tín hủ tục và đặt những hướng tiến hóa, hội nhập dần vào đời sống văn hóa của quốc gia. Những thẩm quyền này phải tuyệt đối tôn trọng tinh thần của Hiến Pháp Quốc Gia về mục đích phát triển sắc tộc, và phục tùng những phán quyết của cơ quan bảo hiến tối cao trong trường hợp có tranh tụng với các định chế giám hộ.
     Việc kiểm soát do đó nên được định chế hoá thế nào để khỏi phương hại đến những thẩm quyền tự trị tự quản của các vùng; đồng thời điều hướng, hổ trợ cho các vùng có thể phát triển được khá đồng đều trong những điều kiện khả hữu là một vấn đề vô cùng quan trọng chưa thể lạm bàn được lúc này. Nhưng kinh nghiệm về các phương thức kiểm soát của chính quyền trung ương của các nước tiên tiến có thể được nghiên cứu rút tỉa như kiểu giám hộ hành chánh ở các quốc gia có nhà nước tập quyền Ḥa Lan, Hy Lạp..., giám hộ tài chánh như ở Anh, Bồ Đào Nha… có thể chọn làm chuẩn mực (kể từ năm 1990, nước Anh đă trở lại công thức trung ương tập quyền đáng kể và kiểm soát khá chặt chẻ các cơ chế địa phương, nhất là về phương diện tài chánh). Ở Pháp chế độ giám hộ pháp lư được thực hiện qua các đại biểu vùng (préfet) và pháp chế tài chánh thông qua pḥng kiểm tóan.
     Vấn đề tương trợ tài chánh giửa các vùng giàu nghèo khác nhau cũng nên được khảo sát cặn kẻ. Kinh nghiệm Đức sau thống nhất với gánh nặng của các bang giàu phải chi viện cho những bang quá nghèo của Đông Đức cũ đang có nguy cơ làm tan vở tính đoàn kết quốc gia và đảo lộn các tương quan kinh tế-xă hội.
     b.- Phát triển trong điều kiện khả hữu của  từng vùng  là một vấn đề then chốt của lư do phân vùng. Nếu một vùng nghèo khó, hẻo lánh, ít tài nguyên cứ trông chờ nhửng chi viện của trung ương để thoả mản trước hết những chi tiêu công cọng (chưa nói tới chi tiêu kinh tế), gánh nặng sẽ đè lên vai những vùng khác cứ phải đóng góp cho chính quyền trung ương. Và nếu t́nh trạng đó cứ tiếp tục kéo dài hơn một thời hạn cho phép, khả năng phát triển vùng sẽ không c̣n cơ hội hiện thực nữa.
     - Quan trọng nhất vẫn là vấn đề khả năng quản trị của các nghị viện và chính quyền Vùng nhằm khai thác tối đa những điều kiện môi sinh hiện có, những tài nguyên ch́m nổi, những khả năng khiển dụng...Tự trị luôn kèm theo ư nghĩa tự quản trong niềm tự tin vào chính ḿnh, trông cậy vào chính ḿnh trước khi yêu cầu sự trợ giúp của trung ương hoặc vay mượn tài chánh từ các vùng khác. Những khó khăn lúc đầu sẽ làm nảy nở sáng kiến, từ đó phát huy kinh nghiệm tổ chức và điều hành vẩn là ch́a khóa của mọi sự phát triển.
     - Sự trợ giúp của Trung Ương thông qua "Hội Đồng Phát Triển Quốc Gia" không phải là những chi tiêu vô bổ để lấp đầy những khoảng trống chi tiêu hành chánh và những chương tŕnh công cọng mà phải là những nghiệp vụ đầu tư vào những căn bản phát triển. Ví dụ giúp huấn luyện nhân sự chỉ huy, những kỷ thuật cao, những ngành nghề cần thiết mà vùng không đảm trách được...
     Những khoản chi viện đầu tư đó của trung ương phải nằm trong một kế hoạch phát triển toàn bộ quốc gia dưạ trên những sự trao đổi, tái đầu tư giữa các vùng. Kế hoạch nếu được vạch ra tinh tế, chính xác, hợp lư sẽ không phiền nhiểu quá đáng vào các không gian tự quản của vùng mà ngược lại biện minh cho sự cần thiết của nhà nước như đă tŕnh bày ở phần trên.
     c.- Phát triển dựa trên những chương tŕnh chỉnh trang lảnh thổ Vùng một cách hợp lư:    Trong thực tế VNCH cũ, tản quyền đă được thực hiện ở cả 3 cấp vùng, tỉnh, xă. Nhưng đó chỉ là một sự tản quyền bề mặt. Ngoài cấp Vùng được thiết lập để hổ trợ cho an ninh chiến lược, các cấp Tỉnh, Xă đều có các cơ cấu dân cử là các Hội Đồng Tỉnh, Thị, Xă. V́ những lư do an ninh chính trị, Tỉnh, Thị Trưởng do Tổng Thống bổ nhiệm; nhưng ở cấp xă, Xă Trưởng do dân cử qua Hội Đồng Xă. Nh́n h́nh thức, đó là một tiến bộ đáng kể trên đường dân chủ hoá,  và trên nguyên tắc, họ sẽ phục vụ dân chúng hữu hiệu hơn do yếu tố dân cử. Thực tế là mục tiêu này của cuộc cải tổ hành chánh thời ấy đă thất bại. Chỉ những xă lớn nằm trong ṿng đai kiểm soát an ninh của chính quyền là những cuộc bầu cử diễn ra tương đối vô tư và công bằng. Đa số kết qủa bầu cử do chính quyền địa phương quyết định. Việc cử xă trưởng trong số hội viên đắc cử cũng thế.
     Một nhược điểm quan trọng khác của luật cải tổ hành chánh là thiếu điều nghiên nên xa thực tế, gây lăng phí. Dù luật có dự liệu mức độ lớn nhỏ cuả xă để qui định số hội viên tương ứng, nhưng những điều khoản này quá tổng quát, có tính khái quát toàn quốc. Trung ương không biết được ở vùng Cao Nguyên Trung Phần vẩn tồn tại những xă mà dân số thống kê được từ lâu lắm chỉ c̣n trên giấy tờ. Chiến tranh đă xé nát những xă ấy, dân chúng lánh nạn hoặc phiêu bạt kiếm sống ở nơi khác, chỉ c̣n già lảo ở lại. Thế nhưng quyết định bầu cử vẩn phải thi hành. Các chính quyền điạ phương sở tại đả rất vất vả để tuyển mộ cho đủ số ứng cử viên tối thiểu. Vấn đề mù chử cũng là một trở ngại không nhỏ. May mắn lắm là trong số hội viên đắc cử có thể t́m được một vị dân cử nắn nót được vài chữ a, b... để kư tên trên những giấy tờ cần thiết!
     Do đó đối với những vùng hẻo lánh ở nông thôn, Tây Nguyên, Việt Bắc, chỉnh trang lảnh thổ trở thành một vấn đề cốt lỏi, căn bản của mọi vấn đề. Không tập hợp những xă nhỏ và quá nhỏ thành những xă có qui mô thích hợp;  không định cư họ trên những địa bàn sinh sống và canh tác thích hợp sẽ không có vấn đề phát triển và đô thị hoá để thực hiện dân chủ, không có phát triển dân trí, dân sinh và nhân phẩm.
     Chỉ có những nghị viên hội đồng vùng sinh đẻ và lớn lên tại chổ mới thấu hiểu hết mọi nguyện vọng của dân chúng họ và những nhu cầu thiết thân liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp của chỉnh trang lảnh thổ để có thể đem lại cơm no áo ấm và một đời sống xứng đáng cho những tầng lớp quần chúng mà họ đại diện.
     C- TẢN QUYỀN VÀ ĐỀ NGHỊ PHÂN VÙNG

     1- Chỉnh trang lảnh thổ
:
    Chính quyền Cộng Sản VN hiện tại đang phải đối phó một cách khó khăn với  t́nh trạng phát triển của những không gian mất cân đối do mức độ ưu đăi của thiên nhiên một phần và mặt khác hậu qủa của những khác biệt chính trị-xă hội của quá khứ. Trên một quan điểm nhận xét khách quan, những cố gắng của chính quyền muốn thăng bằng sự phát triển giữa các vùng là bước đi đúng hướng. Theo kư giả J.C.Pomonti của tờ Le Monde, thực tế phát triển VN từ ngày mở cửa là miền Nam, nhất là khu vực thành phố HCM-Vũng Tàu lúc đầu đă thu hút đến 80% những đầu tư ngoại quốc. Kể từ 1988, 50% những đầu tư được thực hiện ở miền Nam, 15% ở miền Trung và 35% ở miền Bắc (đặc biệt tập trung trong khu tam giác Hà Nội-Hải Pḥng-Quảng Ninh). Với một xuất số phát triển lên đến 15% khu vực thành phố Hồ Chí Minh đă nâng lợi tức hàng năm tính trên đầu người đến 900 USD cao gấp 3 lần lợi tức b́nh quân quốc gia. Từ 1990 với sự lưu tâm đặc biệt của chính quyền Hà Nội v́ lư do chính trị, Khu vực Thủ đô đă phát triển với nhịp độ từ 11 đến 14% mổi năm, lợi tức đầu người tăng gấp đôi, khoảng 600 US$. Trong lúc đó hơn 12 triệu dân miền Trung hầu như bị bỏ quên trong nghèo đói, lợi tức b́nh quân chỉ khoảng 1/10 của người dân khu vực thành phố HCM. Để tránh một sự mất quân b́nh quá đáng có thể dẩn đến sự đổ vở với cảnh tháo chạy của nông dân nghèo đói miền trung, chính quyền Hà Nội đă có kế hoạch thiết lập một cực phát triển ở vùng Đà Nẳng. Thêm vào đó, khu "tam giác phát triển" Hà Nội-Hải Pḥng-Quảng Ninh có thể thu hút thêm nhiều đầu tư ngoại quốc, tạo xuất số phát triển nhanh hầu có thể theo kịp miền Nam.
      Về phương diện địa lư và tổ chức lảnh thổ quốc gia, ta dể dàng nhận thấy những không gian không đồng đều và những đặc tính thiên nhiên, tiềm năng kinh tế thay đổi đột ngột từ vùng này qua vùng khác, từ tỉnh này qua tỉnh khác do h́nh thể trải dài theo biển đông và cấu trúc đa dạng của núi đồi. Sự phân chia thành 3 miền Bắc, Trung , Nam từ thời Nguyễn và đô hộ Pháp không c̣n thích ứng nữa với hoàn cảnh địa lư chính trị kinh tế hiện tại. Trải qua thời kỳ chiến tranh, phong trào di cư 1954 và chính sách di dân của chính quyền cộng sản sau 75, khoảng 800000 người đă di cư vào Nam đổi lại 200000 tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève; và gần 4 triệu người đă di dân kinh tế từ 1975 đến 1989 (theo Roger  Brunet - le VN, émergence d'un nouveau dragon in Asie du Sud Est -Océanie –NXB. Belin Reclus). Đất nước từ đó h́nh thành hai cực phát triển là vùng Châu Thổ Sông Hồng với khu phát triển Hà Nội-Hải Pḥng-Cẩm Phả, Ḥn Gai đối lại với cực Nam giàu có về lúa gạo và khu vực công nghệ-thương măi rất phát triển Sài G̣n-Chợ Lớn-Biên Hoà-Vũng Tàu-Bà Rịa. Miền Trung hầu như bị tách ra bên lề phát triển và trở thành vùng độn giữa hai cực phát triển nói trên. Dù khu vực khá phồn thịnh Quảng Nam-Đà Nẳng đang làm gạch nối giữa hai vùng và kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu ở Quảng Ngăi, tính chất thu hút kinh tế của cực phát triển này không được thuyết phục lắm ngoại trừ khả năng quốc tế xây dựng cây cầu thứ hai bắc qua sông Mékong ở Savannakhet, cảng Đà Nẳng sẽ trở thành hậu cứ của Lào ra biển Đông; và quan trọng hơn, nếu dự án Southern Sea Board  của Thái Lan tiếp chuyển giao thông giữa Ấn Độ Dương và Vịnh Thái Lan qua eo Kra và xây dựng con đường sắt nối tới Cam Ranh c̣n có thể trở thành hiện thực, th́ cảng này và vùng duyên hải Nam Trung Phần sẽ t́m lại vị thế then chốt ở trung tâm những con đường hàng hải sầm uất nhất thế giới. Chính sách chỉnh trang lảnh thổ của nhà nước ở miền Trung cọng với những cơ may quốc tế sẽ cứu vản và giúp cho miền đất cằn cổi này t́m được vị thế của ḿnh trong việc xây dựng lảnh thổ và phát triển quốc gia.
     2. Đề nghị phân vùng gợi ư
:
    Căn cứ vào các đặc tính đồng nhất của cấu trúc địa lư, khả năng giao thông, tổ chức kinh tế, yếu tố sắc tộc...các giáo sư Vũ Tự Lập và Christian Taillard trong Atlas du Vietnam - Nxb Reclus- Documentation Française-  đă đề nghị khả năng gom 53 tỉnh (nay là 61 tỉnh) thành 13 Vùng Phát Triển:
    a)- 5 vùng ở miền Bắc
:
     1.- Hà Nội, thủ đô lịch sử.
     2. - Đồng bằng sông Hồng và vùng trung du bao quanh gồm các tỉnh Hải Hưng, Thái B́nh, Hải Pḥng, Hà Nam Ninh, Hà Sơn B́nh, Vỉnh Phú, Hà Bắc có thế mạnh kết hợp nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, cây chuyên canh như trà, cà phê...
     3.- Vùng Đông Bắc bao gồm các tỉnh Bắc Thái, Lạng Sơn, Quảng Ninh tập trung công nghiệp nặng và hầm mỏ.
     4.- Vùng núi Việt Bắc Hà Tuyên, Cao Bằng dồi dào các loại cây chuyên canh công nghiệp.
     5.- Vùng núi tây Bắc HoàngLliên Sơn, Lai Châu, Sơn La dồi dào các nguồn thủy điện và các loại cây trồng đa dạng.
    b)-  Miền Trung bao gồm 4 vùng:

    6.- Vùng Bắc Trung Phần bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, nông nghiệp phụ trợ cho cực phát triển Hà Nội- Hải Pḥng.
    7.- Vùng Trung Trung Phần bao gồm các tỉnh Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẳng, Quảng Ngải, B́nhĐđịnh và Phú Yên với khả năng công nghiệp ở khu vực Đà Nẳng và nông nghiệp ở khu vực B́nh Định, Tuy Ḥa.
    8.- Vùng Nam Trung Phần Khánh Hoà-Cam Ranh, Thuận Hải giàu về ngư nghiệp, sản xuất nước mắm (Phan Thiết) và khu vực kỷ nghệ tương lai chung quanh phi trường Cam Ranh.
    9.- Vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Lâm Đồng, Đà Lạt với khả năng trù phú cho việc phát triển các nông trường và các loại cây công nghiệp, trà.
    c)-  Miền Nam gồm 4 vùng
:
     10.- Vùng Sài G̣n-Chợ Lớn, Biên Hoà, Bà Rịa, Vũng Tàu là trung tâm công nghiệp và thương mải hàng đầu của cả nước.
     11.- Vùng Đông Nam Phần bao gồm các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh dồi dào cây công nghiệp như cao su, các vườn cây ăn trái.
     12.- Vùng Châu thổ sông Cửu Long bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang là vựa lúa của cả nước.
     13.- Vùng duyên hải Cực Nam Nam Phần bao gồm các tỉnh Minh Hải và Kiên Giang giàu có về tôm cá và công nghiệp chế biến hải sản.
    Trên đây chỉ là một sự phân vùng gợi ư. Một công tŕnh chỉnh trang lảnh thổ hoàn bị đ̣i hỏi một cái nh́n toàn bộ về phát triển và những dữ kiện thống kê chính xác với những công tŕnh thâm cứu lâu dài, khách quan.
     Người viết quan niệm những vùng nên được phân bố rộng rải hơn để giảm nhẹ bộ máy hành chánh và hội đủ những không gian phát triển. VN có thể tổ chức thành 6 vùng và 3 trấn (hay đặc khu) như sau:
    1) 3 Vùng và Trấn ở miền Bắc:
    - Trấn Tây Bắc bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lao Cai, Sơn La, Lai Châu, Ḥa B́nh  và các quận miền núi của Thanh Hóa tập trung đa số dân Mường, Thái, Mong (khoảng trên 2 triệu), có thế mạnh về thủy điện và du lịch.
    - Trấn Đông Bắc bao gồm các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Vỉnh Phúc, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, nơi tập trung đông đảo các sắc dân Tày, Nùng, Mong (H'mông), Dao... khoảng trên 3 triệu người, dồi dào các loại cây trồng đa dạng, khoáng sản, công nghiệp nặng và du lịch.
     - Vùng Châu Thổ Sông Hồng bao gồm Hà Nội, Việt Tŕ, HàTtây, Hà Nam, Hải Pḥng, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái B́nh, Nam Định, Ninh B́nh tập trung các ngành công nghiệp cao, các khu chế xuất...
    2) 3 Vùng và Trấn miền Trung:
    - Vùng Bắc Trung Phần gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng B́nh, Quảng Ttrị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẳng, nơi tập trung các thắng cảnh tạo thành cụm du lịch Huế, Đà Nẳng-Hội An, Bến Hải, Phong Nha (Quảng B́nh), và công nghệ biển trong tương lai.
    - Vùng Nam Trung Phần bao gồm các tỉnh Quảng Ngải, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa-Nha Trang-Cam Ranh, Ninh Thuận, B́nh Thuận có thế mạnh về du lịch, hải sản, hải vận (và khu kỷ nghệ chung quanh phi trường quơc tế Cam Ranh trong tương lai)
    - Trấn Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Kontum, Gia Lai, Đắc Nông, Đắc lắc, Lâm Đồng, nơi tập trung hơn 1 triệu dân thiểu số Ba Na, Gia Rai, Ê đê (Sê đàng), Chu Ru, Kôhô, Hơre...có khả năng sản xuất thủy điện và các loại cây công nghiệp đa dạng.
     3) 3 Vùng miền Nam:
    - Vùng Sài G̣n-Chợ Lớn-Gia Định và Vủng Tàu, trung tâm công nghiệp, thương nghiệp và kỷ nghệ của VN.
    - Vùng Đông Nam Phần bao gồm các tỉnh B́nh Phước, B́nh Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa, vùng trọng điểm các đồn điền cao su, lâm sản và cả thủy điện.
    - Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vỉnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, vựa lúa của cả nước, và nguồn sản xuất ngư, hải sản, các loại cây ăn tráị...
     Ba Trấn (đặc khu) Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên do địa thế chiến lược và bao gồm nhiều sắc dân thiểu số khác biệt, các tổng trấn quân sự được trao quyền rộng rải trong trường hợp có chiến tranh với các lân bang.
     Nh́n chung, các vùng Bắc, Nam Trung Phần, và hai trấn Tây Nguyên, Tây Bắc tương đối nghèo hơn các vùng khác; do đó "Hội Đồng Phát Triển" có thể tập trung đầu tư về công nghiệp biển như kỷ nghệ đóng tàu (đánh cá và các tàu lớn phục vụ các tuyến hàng hải thương thuyền, có khả năng chuyển qua sản xuất chiến hạm trong thời chiến), hải vận, hải sản ở hai vùng duyên hải miền Trung; xây dựng các đường giao thông và ưu tiên đầu tư về thủy điện hoặc các công, nông trường nhằm phát triển vùng Tây Nguyên. Các vùng giàu có như Vùng Đồng Bằng Sông Hồng, Đồng Bằng Sông Cửu Long hay vùng Sài G̣n và phụ cận có thể đầu tư, giúp đở các trấn Tây Bắc hay miền Đông Nam Phần phát triển trong tuương quan hai bên cùng có lợi .
    Củng v́ các nhu cầu văn hóa, sắc tộc, các quận huyện miền núi có đa số người dân tộc sinh sống của các tỉnh lân cận thuộc các vùng khác nên được phân bố lại, sát nhập vào các Trấn.
     Gạt qua một bên những hậu ư chính trị, nh́n chung kế hoạch tái cân đối sự phát triển quốc gia mà nhà nước đă bắt đầu xúc tiến là công việc cấp bách và bắt buộc phải thực hiện song hành với kế hoạch cải cách hành chánh. Sự chỉ đạo quá chuyên chính của Nhà nước xă hội chũ nghĩa hiện nay về phương diện kinh tế chỉ có thể đưa đến những "công tŕnh thế kỷ" tốn kém, khoa trương, mất cân đối cở thủy điện Sông Đà hay đường dây cao thế Bắc-Nam hoặc đường Xa Lộ Trường Sơn; hoặc phi kinh tế như nhà máy lọc dầu Dung Quất.
      Phát triển toàn bộ một quốc gia bao gồm một xă hội mở rộng về mọi mặt. Trước tiên là thúc đẩy những mơ ước về sự thịnh vượng của quốc gia và ấm no của cá nhân con người, từ đó tạo cơ hội đồng đều cho mọi công dân tham gia, đóng góp. Ngược lại một chính quyền xứng đáng phải có khả năng đem lại tiến bộ và hạnh phúc cho toàn bộ quần chúng đă tín nhiệm họ qua lá phiếu.
      Phát triển một quốc gia củng không phải chỉ là những con số thống kê khô khan về xuất số tăng trưởng, sản lượng gộp quốc nội hoặc lợi tức thu nhập từng đầu người tính từ tổng sản lượng quốc gia. Mà là một cái nh́n toàn bộ về khả năng đóng góp của dân tộc cho sự thăng tiến đất nước, bên cạnh những ǵ tốt đẹp nhất mà nhà nước có thể thực hiện nhằm phục vụ tối đa cho phúc lợi của quần chúng. Hiểu theo nghĩa đó th́ siêu cường số 1 thế giới Hoa Kỳ c̣n phải chạy theo Canada và cường quốc kinh tế Đức của Châu Âu c̣n phải thay đổi các cơ chế xả hội của họ để có thể cung ứng nhửng điều kiện sống tốt đẹp cho dân chúng Đức như Na uy chẳng hạn (năm năm liền được xếp hạng 1 thế giới theo đánh giá của chương tŕnh LHQ về những chỉ sơ phát triển con người).
     Mô h́nh chính quyền VN hiện tại không thể đáp ứng những điều kiện ấy. Cho nên cuộc đấu tranh dân chủ hoá phải được tiếp tục trong chiều hướng thiết lập những định chế hiến pháp thích hợp với những điều kiện kinh tế, văn hóa, xă hội Việt Nam; và dự phóng một hướng tản quyền rộng rải như đă phân tích và đề nghị.

      Lê Minh Văn