Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


TẢN MẠN VỀ TẾT

     Tết là Xuân, là Năm Mới, là Lễ Hội. Tết mang tính linh thiêng đối với mọi người, mọi nhà, mọi giới, mọi tôn giáo.
     Khi nào là Tết ? Khi nào hết Tết ?
     Thuở nhỏ nhắc đến Tết như là cái ǵ c̣n lâu lắm, là cái ǵ phải trông chờ. Do vậy dân gian có câu : Tết Mọi, Tết Maróc, Tết Congo . . . như cái ǵ “c̣n khuya”, “c̣n lâu” !
     Cu kêu ba tiếng cu kêu,
     Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

     Dân Lục Tỉnh, hễ qua ngày mồng 10 tháng chạp là coi như Tết rồi. Măi hết ngày mồng 10 tháng giêng năm sau th́ cái không khí Tết mới hết dần đến cuối tháng giêng là hết Tết.
     Tết là mùa xuân của vạn vật. Mỗi năm xuân về một lần. Thế th́ con gái tuổi nào là tuổi xuân ? Xưa các cụ nói con gái tuổi trăng tṛn là xuân. Thị Lộ tuổi trăng tṛn lẽ, chắc chưa tới 20 tuổi, vẫn c̣n xuân nên phải ḷng Nguyễn Trải.
     Tuổi nào là con gái, đàn bà hết xuân ? Và bao nhiêu tuổi gọi là hồi xuân ? Nói hồi xuân nhớ thuốc “Hồi Xuân Các” của nhà thuốc Vơ Đ́nh Dần một thời bá chủ ở Nam Kỳ, không biết có giúp được cho quư bà “trở lại như thời con gái” như các bác sĩ Việt Nam quảng cáo ở Little Saigon bây giờ hay không ?
     C̣n quư ông không ai nói trai xuân cả, mà nói trai tơ, trai tân. Trước khi đàn ông thành cụ, cũng trải qua giai đoạn hồi xuân. Nhà thuốc Vơ Đ́nh Dần có loại “tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” giúp quư ông yêu đời vào cái tuổi cụ. Giờ đây, ở Hoa Kỳ có thuốc Viagra, tác dụng “thần sầu”, được mấy ông Việt Kiều về quê ăn Tết mua về làm quà !
     Trong nước có loại Vevitra h́nh như của Pháp, nghe nói thua xa Viagra.
     Thế giới hiện nay có 150 triệu đàn ông gặp trở ngại sinh lư gọi là tắt là bịnh ED ( erectile dysfunction); Hoa Kỳ có 30 triệu và Việt Nam có 3 triệu bịnh ED.
     Người miền Nam xem cây mai vàng biểu tượng cho mùa xuân, giống như cây đào ở miền Bắc vậy.
     Có lẽ cái tên Mai nói lên sự may mắn, đem mai vào nhà đầu năm nên cây mai được ưa chuộng
     Ngoài mai vàng, c̣n có mai chiếu thủy và mai tứ quư cũng được trồng nhiều trong miền Nam. Mai chiếu thủy là loại mai b́nh dân, bông trắng, nhỏ, có mùi thơm, bông úp xuống nước nên gọi là mai chiếu thủy. C̣n mai tứ quư có bông 4 mùa gọi là mai tứ quư; khi mới nở bông màu vàng, sắp già có hột th́ bông chuyển sang đỏ. Bà con ta ở quận Cam , California, Tết cũng mua mai về chưn. Mai nằm trong bộ Mai-Lan-Cúc-Trúc tượng trưng 4 mùa.
     Dân miệt vườn rất ưa chuộng bông vạn thọ. Vạn thọ biểu thị cho sự sống lâu, bông lại có màu vàng cam lợt rất đẹp, mùi thơm dân dă rất gần với người lao động tay chân.
     Ở chợ lớn Quận 6, có đồn Cây Mai. Cây Mai đó là cây mai ǵ ? Có phải hoàng mai không ? Mai đó là loại “mai mù u”, bông trắng nhụy vàng.
     Mù u, bông trắng, lá quắn, nhụy huỳnh,
     Thấy em lớn tuổi ở một ḿnh anh thương.

                                        (câu ḥ Lục Tỉnh)
     Nói đến cây mù u nhớ thuở nhỏ ở quê đốt đèn bằng dầu mù u, khói đen ng̣m, bay vào lỗ mũi dính đen như ống khói tàu ! 
     Đồn Cây Mai xưa là G̣ Cây Mai, thời Sơ Nguyễn, thi nhơn xứ Gia Định đến đây ngâm vịnh, thưởng ngoạn cảnh đẹp và lập nên “ Bạch Mai Thi Xă” nổi tiếng một thời.
     Bà Sương Nguyệt Anh ( không phải Ánh), con cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu, chồng chết sớm có làm bài “Vịnh Cây Mai” nói lên tấm ḷng tiết liệt, đoan trang ở vậy thờ chồng.
     Tài không sắc, sắc không tài,
     Lá úa nhành khô cũng tiếng mai . . .

     Đây mới đúng là mai vàng, mai Tết.
     Tết ḿnh có nguồn gốc từ Trung Hoa có hơn 100 năm trước Tây lịch, kết tinh nhiều yếu tố “Văn Hóa Hoa” và “Phi Hoa” vùng Đông Á và Đông Nam Á. Tết Việt khác Tết Tàu, Tết Đại Hàn, Tết Nhựt .
     Tết du nhập vào Việt Nam, bị bỏ đi những cái ǵ không thích hợp, thâu nhận thêm yếu tố bản địa mà thành. Đó là Tết Việt Nam.
     Ngày Tết cái ǵ cũng mới. Chén đũa phải mới để cúng ông bà.
     Ở dưới bếp, tấm thớt cũng được mấy bà chuẩn bị mới để chặt thịt heo, thịt gà. Thớt me là loại thớt tốt nhứt, v́ gỗ me rất dai, chặt không ra dâm.
     Bần ḍn, ổi dẻo, me dai
     Nên mấy bà Việt Kiều về Việt Nam hay mua thớt me đem về Mỹ, về Tây, về Úc.
     Xưa Tây chiếm Saigon, đắp đường, trồng me hai bên làm bóng mát. Hàng me bên đường Saigon để lại nhiều kỷ niệm đối với bao thế hệ thanh niên, sinh viên, học sinh và thi nhơn Saigon xưa. Vào đầu mùa mưa, me ra lá non, rồi trổ bông, kết trái. Đứng dưới bóng me thấy hơi lành lạnh, hơi ẩm ẩm, nghe ve kêu, thơ mộng làm sao, lăng mạn làm sao!
     Cây xanh nói với ḷng đường
     Những khi im bóng lá thường nhớ nhau

                             (Thơ Nguyễn Tất Nhiên)
     Me Saigon có cây cả 100 tuổi. Nghe nói sắp bị đốn dẹp bỏ, v́ nó giữ nước gây ẩm ướt, ảnh hưởng đến môi sinh (?) Có lẽ mấy ông môi sinh hết chuyện làm chăng, hay muốn xuất cảng thớt me ? ? ?
     Bàn thờ ông bà được mọi nhà đặc biệt chưn dọn, cho đẹp vào dịp Tết. Bộ chưn đèn và lư hương là nét đặc thù của Văn Hóa Việt. Chưn đèn bằng gỗ quí, sau này các nhà giàu làm chưn đèn bằng đồng. Cái lư hương nói lên sự sáng tạo của nghệ nhân đúc đồng Gia Định, trong khi ở Huế và Hà Nội nghệ thuật đúc đồng thể hiện qua đỉnh đồng.
     Nghề đúc đồng của ta có từ thời Phùng Nguyên đến thời Đông Sơn, vô đến Huế, rồi vào Gia Định tập trung ở Chợ Quán, Tân Ḥa Đông, Thuận Kiều, Thông Tây Hội.
     Khi Tây đến, mở trường Mỹ Nghệ Thủ Dầu Một và Biên Ḥa th́ kiểu dáng lư hương, chưn đèn, mâm thau ô đựng trầu mang nét độc đáo ,khác hẳn Huế và Hà Nội, đó là nghệ thuật Saigon.
     Bộ lư và chưn đèn đánh bóng, để trên bàn thờ, bên cạnh b́nh bông, dĩa trái cây trông rất đẹp mang kiểu cách người Lục Tỉnh. B́nh bông phải để bên tay mặt, dĩa trái cây bên trái mới đúng câu “đông b́nh, tây quả” của quí cụ ngày xưa.
     Tết ra đường ai cũng bận quần áo mới, bằng vải cây, vải tám trắng; phụ nữ con gái ưa dùng vải batiste trắng hoặc màu, mỏng và mềm. Áo bà ba may nối lưng gọi là may đâu sóng. Quần dài không cắt kiểu “đái giữa” như ngày nay, mà cắt “đái nem” như kiểu quần xà lơn của lính Việt Nam Cộng Ḥa.
     Chiếc áo bà ba, một biểu tượng cho Lục Tỉnh có từ thế kỷ 18, thời mới khai hoang, mà có người nói phỏng theo trang phục của “người Bà Ba” –một nhóm người Hoa sống ở Mă Lai (?)
     Nay chiếc áo bà ba may cách điệu, thắt eo, tà dài phủ mông, ôm sát cái quần lảnh đen, ống rộng, phủ gót trông lả lơi, mà đơn giản, mộc mạc “thắc đái lưng ong” rất hấp dẫn. Ngoài Bắc, xưa các cô mặc yếm đào, đi chùa ngày Tết. Nghe bảo cái yếm có từ thời nhà Lư thế kỷ thứ 10. Yếm theo người phụ nữ dầm mưa giải nắng, vào đến tận cung đ́nh cái yếm xưa h́nh vuông, cổ tṛn hoặc chữ V, đeo trước ngực để che đôi vú.
     Xướng : Trời mưa lấy yếm mà che.
                 Có anh đứng gác c̣n e nỗi ǵ

     Họa: Ước ǵ sông hẹp bằng gang
             Bắc cầu, trải yếm cho chàng sang chơi

     Cái yếm không chỉ là áo che kín vú, như nhiệm vụ của nó, mà là cái ǵ gợi t́nh, gợi cảm, đầy vẻ quyến rủ. Chả thế mà mấy cô gái Bắc Kỳ xưa c̣n nhét vào đó cái “túi thơm” tỏa mùi như loại ong cái, dụ ong thợ. Mấy cô c̣n têm trầu nhét vào yếm, hẹn trai ra ngoài vườn để được mời ăn miếng trầu lấy từ yếm ra, thơm mùi da thịt!
     C̣n mấy cô gái Lục Tỉnh thời khai hoang mặc loại ǵ để che cặp vú? Không biết, nhưng chắc không phải là cái yếm. Đến khi Tây vô, th́ mấy cô mặc áo soutiens (áo nâng vú), bên Mỹ gọi là Bras. Gọi là nịt vú hay nâng ngực thế nào cho đúng ? Nghe nói Hà Nội đang chuẩn bị đón kỷ niệm 1000 Thăng Long, đề nghị nên có biểu diễn thời trang 1000 năm lịch sử cái yếm, chắc hấp dẫn du khách lắm, thu hút được nhiều Việt Kiều lắm.
     Nay nói về đôi guốc. Đôi guốc đối với quí cô ngày Tết cũng cần phải mới chớ. Ngày Tết bận đồ mới, mang guốc mới chưng diện như thế, cụ Vương Hồng Sển gọi là “bắt kế”, (từ bắt kế chỉ gắn xe vào ngựa).
     Chuyện lai lịch đôi guốc cũng dài ḍng. Sử nói đôi guốc có từ thời Văn Lang, nhưng là đôi guốc bằng đá, nay c̣n giữ ở nhà bảo tàng Cao Bằng. Sử Giao Châu Kư th́ chép Bà Triệu mang guốc bằng ngà voi khi ra trận, c̣n guốc dân gian xưa làm bằng tre.
     Ở Saigon Lục Tỉnh guốc bằng cây vông hay cây quau, đóng quai bố hay cao su. Tàu Chợ Lớn hay đi guốc sơn, bằng gỗ cứng, đi kéo lê trên đường kêu côm cốp, nhứt là ban đêm.
     Ngày Tết là dịp ăn ngon, nói ăn Tết là vậy. Quanh năm tiết kiệm, Tết là dịp để ăn, để thiết đăi bạn bè. Tết mới được ăn món ngon vật lạ.
     Ẩm thực Lục Tỉnh bắt nguồn từ lối ăn dân dă của những người khai hoang; nhẹ về h́nh thức nhưng năng về nội dung.
Tết Lục Tỉnh không thể thiếu bánh Tét. Gọi bánh Tét v́ dùng dây Tét bánh ra từng khoanh. Có người nói nó tên là bánh Tết, đọc trại ra bánh Tét, nghe cũng có lư.
     Bánh Tét dùng để cúng “Tết Nhà” ngày mùng 3. Bánh Tét gói nếp với đậu đỏ, đậu đen trộn với dừa xác, ăn vói thịt kho Tàu, cải chua rất bắt miệng.
     Người Lục Tỉnh làm các món ăn thường có dừa. Như tôm rang với dừa khô, bánh các loại đều có dừa khô, đặc biệt là mức dừa xanh đỏ vào dịp Tết nổi tiếng ở Bến Tre.
     Cây dừa được đem trồng công nghiệp, lên líp, xẻ mươn là sáng kiến của ông Bùi Quang Chiêu. Ông Chiêu học kỷ sư nông nghiệp ở bên Tây, về Bến Tre quê hương ông, phổ biến cách trồng dừa đầu tiên, khiến Bến Tre có tên là xứ dừa.
Ông Trương Văn Bền, quê Bến Tre, có sáng kiến sản xuất xà bông từ dầu dừa. Xà bông Trương Văn Bền nổi tiếng với xà bông thơm Cô Ba và xà bông 72 phần dầu. Hăng ông ở gần bưu điện Chợ Lớn, xưa là bến ghe Lục Tỉnh lên Chợ Lớn. Sau Tây lấp sông, xây bưu điện Chợ Lớn, làm đường chạy đến nhà ga xe lữa Mỹ Tho, đặt tên là đường Tổng Đốc Phương.
     Hăng xà bông Trương Văn Bền sau này sản xuất bột giặt lấy tên bột giặt Việt Nam bán ở Đông Dương và hăng đổi tên là “ Trương Văn Bền và Các Con”. Lúc này ông Bền đă qua đời và ông kỹ sư hóa học Ngô Văn Hoài là tác giả của xà bông hột hiệu Việt Nam cũng như là tác giả của kem chà răng Perlon, nổi tiếng Saigon Lục Tỉnh một thời trước 1975, là kem trắng chỉ hồng.
     C̣n rượu để cúng Tết, đăi khách là loại rượu nếp. Dân nhậu gọi là “ruợu ba xị đế” . Rượu đế nổi tiếng là rượu Hóc Môn, Bà Điểm, G̣ Đen, G̣ Công. Rượu đế đối với Lục Tỉnh là rượu lễ, để cúng và dùng trong đám cưới.Dân Lục Tỉnh không dùng cái chung rót rượu mà dùng ly, ly loại nhỏ, ly có chưn th́ sang hơn ly không có chưn.
     Báo Xuân, báo Tết là nét độc đáo của người Saigon -Lục Tỉnh.
     Báo chữ Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam là tờ Gia Định Báo, ra ngày 15-4-1865 do Ernest Potteau quản lư, đến 16-9-1869 được giao cho Trương Vĩnh Kư.
     Chơi cũng thuộc phạm trù Tết. Có nhiều tṛ chơi trong lễ hội Tết.
     Tháng giêng là tháng ăn chơi.
     Ông Trần Quốc Vượng trong “ Theo Ḍng Lịch Sử” do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Hà Nội phát hành năm 1996 nói về Tết như sau :
     “Hằng năm, ba ngày Tết Nguyên Đán đều thịnh soạn, cổ bàn cúng bái tổ tiên. Trai gái chay giới hương hoa Lễ Phật, chơi tṛ đánh đu, đá cầu, hát múa, bên nào thắng uống rượu, bên nào thua uống nước lă . . . Năm hết Tết đến, ai nấy cố ư chi tiêu cho hết, một ḷng thành, kính để tổ tiên rất hậu, đốt pháo trống lệnh, ăn uống linh đ́nh, dong đèn thâu đêm suốt tháng . . .”
     Tết ở Nam Kỳ Lục Tỉnh có khác. Khi Tây lập xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh, họ xây dựng ngay hệ thống hành chánh địa phương là “Nhà Việc”, là cơ quan làm việc của Ban Hội Tề. Từ Phan Thiết trở vào họ lập nhà “vơ ca”, “nhà vuông” để dân làng hội họp, cũng là nơi dân làng tập họp đá gà, đấu vơ, thi đẩy cây trong dịp Tết . . .
     Ở Gia Định đặc biệt có Lăng Ông Bà Chiểu. Tết đi Lăng Ông để cúng ông, xin xăm, cầu phước, cầu tài. Theo thống kê gần đây cho biết trên 50% người đi Lăng Ông là người Tàu Chợ Lớn, v́ họ cho rằng xưa kia khi làm Tổng Trấn Gia Định, ông đă nâng đỡ người Tàu.
     Ông Lê Văn Duyệt có ẩn tật, làm “hoạn quan” cạnh Gia Long thời tẩu quốc, được Gia Long tin dùng. Sau khi chết, Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng kết 11 tội, đến đời Tự Đức mới được truy phục chức.
     Chụp h́nh là lối chơi quí phái của các bà. Ngày xưa, ngoài Bắc gọi là chụp ảnh nghe đúng hơn. Hồi đó chụp h́nh trắng đen, ai có tiền chơi bạo, mướn thợ tô màu ra h́nh màu. Chụp h́nh là lấy hên đầu năm hoặc xă xui năm cũ . Mấy ông chủ điền Lục Tỉnh có tiền cho con đi Tây học, có người học nhảy đầm, lái xe, có cậu học chụp h́nh, cắt may đồ Tây. Tiệm chụp h́nh xưa Saigon là của Antoine Giàu, c̣n tiệm may th́ của Nguyễn Phong Tân.
     Hồi thập niên 1960’s ở đường Lê Thánh Tôn cạnh chợ Bến Thành có tiệm may Văn Quân nổi tiếng. Sau đảo chánh ông Diệm, ông Văn Quân tiết lộ rằng ông Diệm bị ẩn tật khiến tiệm may của ông được nhiều người biết tiếng thêm.
     Xưa Tết Saigon Lục Tỉnh, chỉ có tục lệ “mừng tuổi” ông bà chứ chưa có tục “ĺ x́”. Vào đầu năm, ngày Tết người ta cử mở tủ lấy tiền. Tủ được niêm phong bằng giấy hồng đơn vào chiều 30 Tết. Mấy người giàu có mua tủ sắt cất tiền, vàng bạc nữ trang và bằng khoán ruộng. Hồi đó, Tây đem vào tủ sắt hiệu Bauche và Fichet rất được ưa chuộng. Tủ sắt để nhà trên, cạnh bàn thờ coi rất oai, rất sang.
     Nói về tục lệ cúng Tết, nhà nào cũng cúng cơm ba ngày Tết. Sáng sớm cúng nước, trưa chiều cúng cơm, tối lại cúng nước.
     Tục cúng người chết ta học theo người Tàu, bởi Khổng Tử viết :
     Sử tử như sử sanh. (Kính trọng người chết như kính trọng người sống). Tục lệ này rất tốt và cao quí. Ra hải ngoại người Việt vẫn duy tŕ.
     Người Lục Tỉnh có thói quen thờ cúng Trời Đất, vong hồn yểu tử, những người vô danh gọi chung là “khuất mặt khuất mài”. Tết ngoài cúng tổ tiên ông bà, người ta phải cúng “đất đai”, “viên trạch”, nay nói tắt là cúng “đất đai”
Theo Huỳnh Tịnh Của th́ tục này có từ Quảng Trị vào Nam, tức là đất Đàng Trong, đất mới phương Nam. “Đất đai” chỉ đất ruộng, “viên” là vườn c̣n “trạch” là đất cất nhà (thổ trạch).
     Tết đối với người ḿnh quả c̣n nhiều điều phải viết, c̣n nhiều điều chưa viết ra, hoặc bị mai một đi rồi.
     Ở đâu, đi đâu ai cũng mong được về nhà về quê ăn Tết. Sau 30 năm quê hương chấm dứt chiến tranh.,có 1.223.736 người Việt ly hương trên đất nước Hoa Kỳ. Riêng ở quận Cam, California có 484.023 người (theo thống kê năm 2000).
     Ai xa quê mà không nhớ quốc.
    Tết đến, ăn trái dưa hấu ở đây mà ḷng nhớ trái dưa hấu G̣ Công, Cổ C̣. Đêm nằm nghe bài vọng cổ “Xuân đất khách” thắm thía làm sao. Nghĩ lại, ở thế kỷ trước quí ông tác giả Quốc Văn Giáo Khoa Thư viết rằng “chỗ quê hương đẹp hơn cả” quả không sai !
     Cơn mưa đầu mùa sớm đổ đến Quận Cam ! Nh́n ra vườn sau, thấy đôi “ chim cu đất” đậu ngọn cây Palm, mà nhớ làm sao cây mù u với đàn “cu đất” quê nhà ngày xưa !
      Tết đem lại cho mọi nhà, mọi người bao niềm vui, bao ước muốn và bao hy vọng, trong đó có hy vọng đơn sơ là về quê ăn Tết.

Trần Văn Chi
(Hương Vị Ngày Xưa)
Viết tại Little Saigon Vào thu năm 2004
Đăng trên báo Xuân Người Việt năm Ất Dậu -2005