Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


TÁC HẠI của NGHỊ QUYẾT 36

           Sau chuyến Mỹ du hồi tháng 6 năm 2003, viên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao cộng sản Việt Nam (VC) tuyên bố:  “Trong thời gian tới, cần quán triệt tinh thần chủ động, sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và xây dựng với những bước đi và biện pháp cụ thể, thực hiện chủ trương ḥa hợp dân tộc, khép lại quá khứ, tiến tới tương lai…” Phải chăng “những bước đi và biện pháp cụ thể” nói đây là các công tác được ghi trong Nghị quyết số 36-NQ/TƯ (NQ36) về “Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” do Bộ Chính Trị đảng VC ban hành ngày 26/3/2004?
         Thật ra, nghị quyết này chẳng có điều ǵ mới mẻ ngoài tính cách ồn ào và công khai của nó. Thật vậy, ngay từ đầu thập niên 90, VC đă bắt đầu chú ư đến sự thành công vượt bực tại hải ngoại của hàng triệu người mà trước kia họ dán cho nhiều nhăn hiệu để bôi nhọ như “ma cô, đĩ điếm, bọn bán nước, bọn liếm gót giày đế quốc Mỹ, rác rưởi hôi tanh...” Với quyển “Về Người Việt Định Cư Tại Nước Ngoài” của Nguyễn Ngọc Hà - Trưởng ban Việt kiều, trực thuộc Trung ương đảng - VC đă đề ra kế hoạch chiêu dụ Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Vào đầu năm 1999, Thủ tướng VC Phan Văn Khải kư quyết định số 210/1999/QĐ-TTg cũng cùng mục đích. Đến năm 2001, Phó thủ tướng VC Nguyễn Mạnh Cầm kư quyết định số 114/2001/QĐ-TTg, bổ túc và chi tiết hóa quyết định số 210/1999 nhằm chiêu dụ “bọn rác rưởi, hôi tanh” đem đồng tiền thơm phưng phức của “chúng” về dâng cho Đảng! Để phát động chiến dịch chiêu dụ nói trên, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam của Phạm Thế Duyệt và Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Nguyễn Đ́nh Bin, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao VC làm chủ tịch, đă cho ra đời “Uỷ Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài”. Uỷ ban này đă bắt đầu hoạt động từ ngày 23-4-2001.
        Khi ban hành NQ36 để công khai hóa những ǵ họ đă làm trong quá  khứ , phải chăng Bộ chánh trị VC nhằm tạo 4 loại tác dụng: ru ngủ, chiêu dụ, đánh phá, thi hành diễn biến ḥa b́nh đảo ngược? Các tác dụng nói đây, nếu thành công, sẽ gây nhiều tác hại cho cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản chúng ta.

         1.Tác dụng ru ngủ

          Từ khi chiếm được miền Bắc vào năm 1955 cho đến 25 năm sau khi thôn tính được miền Nam, VC không hề tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Bỗng dưng năm 2001, họ cử hành Lễ Giỗ Tổ một cách trọng thể và sau đó họ ban hành Nghị quyết số 35/NQ/TU ngày 9/2/2004 quy định các ngày đại lễ trong hai năm 2004-2005 trong đó có ghi Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Đây là một sự việc mới lạ chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ qua! Tại sao lại có “hiện tượng về nguồn” nói đây? Phải chăng VC đă thay đổi tư duy? Người viết không nghĩ như thế. Xin nhắc lại lời nói của văn hào Soljenitsyne: “Đi xe đạp từ mặt đất lên cung trăng c̣n dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. VC không thay đổi tư duy, thế tại sao trong gần nửa thế kỷ, họ bỏ mặc Đền Hùng cho gió mưa tàn phá, cho cỏ dại ngập lối đi, cho muông thú làm hang ổ, bỗng nhiên năm 2001, họ bỏ ra hàng tỷ bạc để tái chỉnh trang Đền Hùng và tưng bừng tổ chức Lễ Giỗ Tổ như đă nói trên? Phải chăng họ muốn sử dụng đại lễ này như một phương tiện nhằm ru ngủ quần chúng và làm cho quần chúng lăng quên tội ác của họ trong việc lén lút kư kết, vào cuối năm 1999 và năm 2000, hai hiệp định dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng?
           Theo thiển ư, khi ban hành NQ36, Bộ chính trị VC cũng nhằm tạo tác dụng ru ngủ, nghĩa là làm cho người dân trong nước và người Việt tỵ nạn CS lăng quên các vấn đề sau đây để tập trung ư lực vào NQ36:
           Việc quốc hội VC phê chuẩn hai hiệp định dâng đất, dâng biển cho Trung cộng.
           Vấn đề Tây Nguyên với hàng trăm đồng bào Thượng bị VC thảm sát và hàng ngàn đồng bào Thượng khác phải trốn vào rừng, chết v́ đói lạnh hoặc phải bỏ xứ mà đi!
          Nạn tham nhũng của các “quan chức” VC từ thượng tầng đến hạ đẳng đang tràn ngập đất nước, phủ trùm toàn dân..
         Chiến dịch đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền do VC tiếp tục phát động với “pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo” có hiệu lực từ ngày 15/11/2004.
         Chánh sách “đem con bỏ chợ” trong việc xuất khẩu công nhân để làm “nô lệ” hầu trả những món nợ khổng lồ cho các nước “xă hội chủ nghĩa anh em”.
          Xuất cảng trẻ thơ và thiếu nữ để phục vụ t́nh dục cho ngoại bang hầu thu ngoại tệ về cho đảng.
          Nạn măi dâm, ma túy đang tràn ngập hai thành phố Saigon, Hà Nội và các tỉnh lẻ.
         Một vấn đề khác có tính cách sinh tử đối với VC mà họ cố t́nh dấu diếm hoặc làm cho toàn dân quốc nội lẫn hải ngoại không chú ư đến. Đó là “Loạn Cung Đ́nh”  tức sự rạn nứt trầm trọng trong hàng ngũ chóp bu của VC hay nói rơ hơn sự đấu đá giữa phe Lê Đức Anh đầy quyền lực và phe Vơ Nguyên Giáp chẳng c̣n ǵ ngoài cái danh hời Điện Biên Phủ. Đây có lẽ là vấn đề gây nhiều bối rối và lo âu cho VC.
        Liệu NQ36 và sự ồn ào quanh nó có thể làm cho người dân quốc nội và đồng bào hải ngoại không c̣n lưu tâm đến các vấn đề nêu trên nữa hay không? Người viết nghĩ rằng: không, bởi một lẽ rất đơn giản là các vấn đề kể trên được VC lập đi lập lại hàng ngày: tham nhũng, cấu xé lẫn nhau để giành ngôi vị, đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, xóa bỏ dân chủ, tiêu diệt đồng bào thiểu số, tiếp tục a ṭng xuất cảng trẻ thơ và thiếu nữ miền Nam để làm gái măi dâm và làm “dâu” Đài Loan, chấp nhận triều cống và sẵn sàng dâng thêm đất, biển và Vịnh Cam Ranh cho Trung Cộng để “duy tŕ t́nh hữu nghị”!

         2.Tác dụng chiêu dụ.

          Có hai thứ mà VC rất thèm muốn: kỹ thuật và ngoại tệ mà họ t́m mọi cách để chiêu dụ.
          Về các ngành chuyên môn và thuật quản trị, hải ngoại có thể về đóng góp trong các cuộc hội thảo, hoặc thuyết tŕnh hay giảng dạy theo quy chế giáo sư thỉnh giảng. C̣n vấn đề về ở hẳn làm công dân của nước CHXHCNVN để đóng góp chất xám dưới quyền lănh đạo của những kẻ có nhiều “hồng” mà chẳng có “chuyên” lại là một việc khác. Triết gia Trần Đức Thảo đă về VN và đă được giao việc dịch truyền đơn kêu gọi lính Pháp đào ngũ; sau đó Hồ Chí Minh bảo: ”Chú đă học nhiều kiến thức phương Tây; bây giờ chú cần học ở nhân dân.” Tiến sĩ văn chương kiêm Tiến sĩ luật khoa Nguyễn Mạnh Tường đă về nước và dạy ở trường Dự bị đại học và sau ngày đ́nh chiến (1954) về dạy ở trường Đại học văn khoa. Trong một buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội, ngày 30-10-1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đă đọc bài diễn văn với tựa đề “Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lănh Đạo”. Sau bài diễn văn này, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đă bị cô lập và bị đẩy vào một t́nh trạng vô cùng bi đát.
           Trên đây là hai trường hợp trong nhiều trường hợp điển h́nh về số phận của các nhà trí thức yêu nước, thương dân nhưng không chịu yêu Xă Hội Chủ Nghĩa và  nhứt là không chịu nịnh “đảng”!
           Ngoài trí thức, VC c̣n cần ngoại tệ. Trên 3 tỉ Mỹ Kim người Việt hải ngoại gửi hoặc mang về hàng năm, họ chưa cho là đủ. Thật vậy, trong phần 1 của NQ36, Phan Diễn viết: về “Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về trí thức (VC nên nói thật ḷng ḿnh: nhứt là về đô la), chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.”
            Một điểm VC có thể đă thấy trước. Đó là nguồn ngoại tệ từ hải ngoại về VN sẽ cạn dần, về cả hai phương diện “gởi” và “mang”: Ông A gửi tiền hoặc mang tiền về thăm cha, mẹ hoặc anh, chị, em ; cha mẹ, anh chị em qua đời, ông A chấm dứt việc gửi tiền hoặc mang tiền về thăm hoặc ông A qua đời, con cháu của ông ta sẽ không làm được như ông ta. Do đó, NQ36 đă đề ra phương thức “thường xuyên tổ chức...du lịch về nguồn”. Phương thức này có thể có hai tác dụng:  thu ngoại tệ qua h́nh thức xuất cảng vô h́nh (du lịch) và hâm nóng t́nh gia tộc để con cháu nối tiếp công việc của cha, ông đă qua đời: gửi tiền và mang tiền về thăm thân nhân.
           Nhưng du lịch VN cũng có nhiều hạn chế: ô nhiễm nước uống, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng động, cướp giựt, tai nạn xe cộ, luật rừng, có thể bị chụp nhiều loại mủ khác nhau (CIA, gián điệp, lợi dụng dân chủ, xâm phạm quyền lợi của nhà nước) và nhứt là bị yêu cầu đóng góp để “phát triển đất nước”.

          3.Tác dụng đánh phá.

            Việc tổ chức dạy Việt ngữ với sách giáo khoa do VC soạn và giáo viên do VC cử đến có thể reo rắc vào tâm hồn của con cháu chúng ta những tư tưởng hắc ám và, do đó, chúng chống lại cha mẹ, ông bà. Gia đ́nh nào có con em tham dự lớp Việt ngữ do VC tổ chức sẽ tiếp nhận một hoặc vài tên “công an bé con” trong gia đ́nh. Xin nhớ lại t́nh trạng này trong những năm tháng sau ngày VC cưỡng chiếm miền Nam.
         “Chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng” sẽ có tác dụng tạo ra sự nghi ngờ , dè dặt giữa những thành viên trong cộng đồng người Việt tị nạn CS và, do đó, sẽ vô hiệu hóa các hoạt động của cộng đồng trong công cuộc đấu tranh nhằm giải thể chế độ cộng sản. Mặt khác, sự khen thưởng nói trên có thể khuyến khích việc thành lập nhiều hội đoàn, nhiều cộng đồng có cùng một mục đích với thành phần hội viên giống nhau: Hội Cựu Quân Nhân, Hội Cựu Chiến Sĩ, Hội Cựu Quân Nhân Chống Cộng...Các hội này sẽ “ngồi nh́n nhau” để bới lông t́m vết, phê b́nh, chỉ trích, đả kích, bôi nhọ lẫn nhau chớ “không nh́n về một phía”, phía VC, để xem họ giở tṛ ǵ trong chiến dịch nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại.
          Với việc “tăng cường cán bộ tại các cơ quan đại diện ngoại giao” và việc “chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người VN ở nước ngoài”, VC quyết tâm xâm nhập cộng đồng người Việt tị nạn để rỉ tai tuyên truyền các chiêu bài của họ với từng người Việt tị nạn một hoặc với từng nhóm nhỏ, nhứt là để bôi nhọ và gây mâu thuẫn giữa những người Việt tị nạn CS hầu phá nát cộng đồng hải ngoại, chiến tuyến chống cộng tích cực và hữu hiệu. Sau hết, và xin lập lại, các cuộc tiếp xúc đó cũng là dịp để đám cán bộ VC xin đồng bào ủng hộ định kỳ tiền bạc để đảng và nhà nước “phát triển đất nước”. Đồng bào nào đă về VN hẳn có nhiều kinh nghiệm về việc này với đám cán bộ VC trong nước, nhứt là ở các tỉnh.

          4.Tác dụng diễn biến ḥa b́nh đảo ngược.

           VC đang bối rối và sợ hăi v́ nghĩ rằng Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương đang thực hiện diễn biến ḥa b́nh nhằm thay đổi dần dần chế độ VC. Để hóa giải tác hại của diễn biến ḥa b́nh nói đây, VC nỗ lực “tổ chức thực hiện thắng lợi NQ36”, nhằm tạo một thứ diễn biến ḥa b́nh đảo ngược để từ từ thay đổi cộng đồng người Việt hải ngoại theo chiều hướng họ muốn. Diễn biến ḥa b́nh nào sẽ đạt thắng lợi sau cùng? Chắc chắn không phải diễn biến ḥa b́nh đảo ngược v́ các lẽ sau đây:
          Đồng bào quốc nội đă chán ngấy chủ nghĩa MácLê, một thứ chủ nghĩa mà “thầy không muốn dạy, tṛ không muốn học”;
          Sau 50 năm thống trị miền Bắc và trên 30 năm đô hộ miền Nam, VC đă để lộ chân tướng là một tập đoàn chỉ yêu nước bằng mồm, mồm nói yêu nước mà hành động lại không thương dân. Cách đây mấy năm, dân đói đến độ phải ăn xương rồng mà sống lây lất qua ngày. Ở Quảng Nam có một gia đ́nh ăn xương rồng, nấu không kỹ, đă chết toàn gia. Trong khi đó VC đem 10 tấn gạo dâng cho Bắc Hàn, đồng thời đẩy mạnh xuất cảng gạo để đem ngoại tệ về cho đảng. Nhờ đó mà đồng bào miền Nam đă ngậm ngùi nhớ đến câu nói của vị Tổng Thống nền Đệ nhị Cộng ḥa: ”Đừng nghe những ǵ CS nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ CS làm”.
         Với phương tiện truyền thông tối tân hiện nay, VC không c̣n có thể bưng bít và lừa bịp đồng bào quốc nội được nữa.
         Vài ba lư do nêu trên cũng khá đủ để đồng bào quốc nội sẵn sàng chấp nhận diễn biến ḥa b́nh mặc dù VC cố gắng chống lại.
         Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, VC có thể nghĩ rằng đó chỉ là “con quạ” khù khờ trong bài ngụ ngôn “Le Corbeau et le Renard” của La Fontaine, c̣n ḿnh là “con cáo” khôn ngoan. Do đó, họ chắc mẻm sẽ xơi tái Cộng đồng ấy với cái “diễn biến ḥa b́nh đảo ngược”. Họ đă lầm! Lầm v́ xem thường sự hiểu biết của cộng đồng người Việt về bản chất lừa bịp, tráo trở của họ. Tuy nhiên, nếu chúng ta thờ ơ, khinh xuất, không đề cao cảnh giác, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào cái bẫy sập “ngọt mật, chết ruồi” để rồi, như con quạ của La Fontaine, cất tiếng than ai oán: “lần khác th́ ta không lầm”. C̣n lần nào nữa không?

            Đoạn Kết                                                   

            VC đă quyết tâm thôn tính Cộng đồng người Việt hải ngoại bằng NQ36. Họ đă chuẩn bị khá kỹ sự thi hành nghị quyết và nghĩ rằng đồng bào hải ngoại:
            sẽ tin những lời vuốt ve phỉnh lừa của họ
            sẽ tin các chiêu bài củ rích của họ
            đă quên hàng trăm ngàn nông dân vô tội bị đấu tố và thảm sát trong “cải cách ruộng đất” ở Miền Bắc
            đă quên trên dưới một vạn đồng bào bị họ thảm sát tại cố đô Huế
            đă quên Đại Lộ Kinh Hoàng
            đă quên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa
            đă quên việc họ dâng đất, dâng biển cho Trung cộng
            đă quên những thủ đoạn tàn độc của họ trong quá khứ và hiện tại
            không c̣n nghĩ đến các em bé đang lê lết trong các ổ mải dâm tại Cambodia
            không c̣n nhớ đến các “cô dâu Đài Loan” đang sống tủi nhục nơi xứ người
            không c̣n lưu tâm đến những ǵ họ đang làm trong hiện tại: tham nhũng, đàn áp tôn giáo, chà đạp nhơn quyền, tiêu diệt dân chủ
            không lưu tâm đến mưu toan của họ trong việc dâng vịnh Cam Ranh cho Trung cộng để tiếp tay với họ “thi hành thắng lợi NQ36”.
           Kỳ vọng càng  cao, thất vọng càng lớn. VC đánh giá quá thấp trí nhớ và sự hiểu biết của đồng bào hải ngoại về bản chất lừa bịp, tráo trở cố hữu của họ. Những ǵ họ kỳ vọng nơi đồng bào sẽ không bao giờ xăy ra! Nói như thế không phải người viết khinh địch và quên lời nói của người xưa “chưa thắng đă kiêu, chưa thua đă rối”. Chúng ta “không kiêu” chúng ta “không rối”. Chúng ta chỉ có một quyết tâm: quyết tâm vô hiệu hóa NQ36 để VC không c̣n phương tiện cứu đảng, cứu chế độ, một chế độ phi nhân, tàn độc chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà, một chế độ làm kinh tài bằng cách xuất khẩu trẻ thơ làm gái măi dâm nơi xứ người và xuất khẩu công nhân làm nô lệ ngoại bang vớí chánh sách “đem con bỏ chợ”.
          Quyết tâm đó cần được cụ thể hoá bằng sự tẩy chay - tẩy chay tất cả những ǵ liên quan đến VC – và thẳng tay cô lập hóa – cô lập hóa những phần tử gián tiếp hay trực tiếp liên quan đến các công tác của VC: không bắt tay, không tṛ truyện, không lui tới, không mua bán, không ngó mặt chúng. Quyết tâm đó đă tỏ ra khá hữu hiệu qua lời ghi nhận của chính nhà cầm quyền VC. Thật vậy, theo “Cục Đầu Tư Nước Ngoài” của VC, số tiền “Việt kiều” mang về đầu tư, sau gần hai năm NQ36 được ban hành, không tới 300 triệu mỹ kim, một số tiền “chưa tương xứng với tiềm năng” của cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại. Mặt khác, “Uỷ Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” của VC ghi nhận: chỉ có độ 200 trong số khoảng 300,000 trí thức người Việt Nam ở hải ngoại về nước “đóng góp một cách rất hạn chế”.

         Lê Công Truyền
        Tháng 11 năm 2005