Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


SINH LỘ DUY NHẤT
CHO VIỆT NAM

     Mỗi năm, vừa bước qua tháng 3 th́ người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm ngày quốc hận vào cuối tháng 4, là ngày toàn thể đất nước ch́m đắm trong ngục tù cộng sản, và cũng là ngày thúc đẩy hàng triệu đồng bào bỏ nước ra đi t́m tự do. Ít người c̣n nhớ đến một tháng khác trong năm là tháng 7 là tháng kư kết hiệp định Geneva hồi năm 1954, mà hậu quả cũng là đặt phân nửa đất nước dưới chế độ độc tài đảng trị của cộng sản và làm cho cả triệu đồng bào miền Bắc phải di cư vào Nam.
     Lịch sử có lắm chuyện xảy ra do luật nhân quả hoặc được hiểu như là do t́nh cờ đưa đẩy. Chẳng hạn như nếu không có Hiệp định Geneva 1954 th́ biết đâu đă không có Hiệp định Ba Lê 1973. Cho nên đối với người viết bài này, năm 1954 là năm đánh dấu một khúc quanh vô cùng quan trọng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam mà mục tiêu là tự do độc lập và phúc lợi cho đồng bào. Đầu năm 1954, chiến sự miền Bắc leo thang đến cao điểm quyết định một mất một c̣n cho hai phe lâm chiến. Lần đầu tiên, quân đội Pháp được chọn chiến trường với độ 17 ngàn binh sĩ dùng thung lũng Điện Biên Phủ làm cứ điểm pḥng thủ, thách đố Cộng sản Việt Nam tập trung đơn vị lớn đến để giao chiến. Tướng Giáp tư lệnh lực lượng cộng sản bèn vận dụng 5 sư đoàn đến để bao vây tấn công lực lượng pḥng thủ ḷng chảo Điện Biên.
     Trận chiến ác liệt bắt đầu từ ngày 13 tháng 3 năm 1954. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin tức từ miền Bắc vọng về loan báo lực lượng Pháp đă đầu hàng. Hàng chục ngàn binh sĩ thuộc lực lượng viễn chinh Pháp, kể cả Tướng De Castries đă bị Cộng sản bắt làm tù binh. Đồng bào khắp xứ hoang mang tột độ v́ chiến thắng quân sự của Cộng sản đương nhiên sẽ mang lại một thế yếu cho Pháp và đồng minh trong cuộc ḥa đàm đang diễn ra tại Geneva. Nỗi lo sợ trên đây đă trở thành sự thật vào ngày 20 tháng 7 khi báo chí loan tin đất nước đă bị chia thành 2 miền Nam Bắc như Cao Ly.
     Năm đó tác giả 24 tuổi, đang theo học năm thứ nhất Quốc Gia Hành Chánh tại Đà Lạt. Lúc bấy giờ, có hai khóa sinh viên đang theo học với chế độ nội trú tại trường. Do đó tối nào, anh em sinh viên cũng xuống pḥng đọc sách để thảo luận về t́nh h́nh đất nước. Anh em sinh viên quê quán miền Bắc vĩ tuyến hoang mang hơn ai hết khi nghĩ đến quyết định của gia đ́nh sẽ như thế nào? Đi hay không đi vào miền Nam? Anh em sinh viên ở phiá Nam vĩ tuyến cũng lo âu cho tương lai nói chung của đất nước, không biết bao giờ đất nước mới thống nhất trở lại, và trong trạng huống chính trị nào? Tất cả sinh viên đều cố phân tích diễn tiến của cuộc ḥa đàm để t́m hiểu căn nguyên cùng những tính toán trục lợi của các cường quốc ra sao, trên xương máu của người dân Việt.
     Từ đó, 51 năm đă trôi qua. Không biết bao nhiêu thay đổi đau thương đă xảy ra cho đất nước. V́ sau năm 1954 không bao lâu th́ chiến tranh bùng nổ trở lại, vùi dập thân phận người dân mà sự sống và sự chết chỉ cách nhau có một lằn đạn lạc trong đêm khi chiến tranh được mang vào thôn xóm, hay chỉ là một khoảng cách vô h́nh giữa cái may và cái rủi trong một vụ ḿn nổ ngay giữa ban ngày tại chợ Sài G̣n hoặc một tỉnh lẻ nào đó.
     Hiệp định Geneva chỉ đem lại cho nước nhà hai năm hoà b́nh ngắn ngủi. Thế rồi lịch sử lập lại một lần nữa vào đầu năm 1973, với Hiệp định Ba Lê kư ngày 27 tháng giêng. Cũng những bộ mặt đế quốc xanh đỏ đó, tuy rằng vai tṛ chính và phụ có phần thay đổi chút ít, nhưng hậu quả vẫn là một. Hậu quả là bất hạnh và thảm họa cho dân tộc Việt của chúng ta. Khi kư kết hiệp định Ba Lê, chính quyền miền Nam không có được sự lựa chọn v́ nếu kư th́ mới nhận được quân viện để bảo vệ miền Nam, theo lời hứa của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon và cũng đúng với điều khoản thay đổi vũ khí đạn dược trên căn bản “một đổi một” của Hiệp định Ba Lê. C̣n nếu không kư th́ viện trợ sẽ bị cắt đứt tức khắc mà 300 ngàn binh sĩ Bắc Việt gài lại trong Nam th́ vẫn c̣n đó, chứ không bị tập kết về Bắc như Hiệp định Geneva 1954. Vả chăng lần này th́ có sự cam kết của đồng minh Hoa Kỳ và sự bảo đảm của 9 quốc gia tham dự trong đó có 5 đại cường thành viên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nga Xô và Trung Cộng) và 4 quốc gia thành viên của Ủy ban quốc tế Kiểm soát và Giám sát (Ba Lan, Hung Gia Lợi, Nam Dương và Gia Nă Đại). Nếu kể luôn các phe lâm chiến th́ có cả thảy 12 Ngoại trưởng đă long trọng kư kết bản Định Ước Quốc Tế trước sự chứng giám của Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ là ông Kurt Waldheim để bảo đảm sự thi hành nghiêm chỉnh của Hiệp định Ba Lê.
     Nhưng thế giới đă chứng kiến sau khi hiệp định Ba Lê được kư kết, Hoa Kỳ đă nuốt lời hứa, cắt đứt mọi viện trợ cho VNCH trong lúc Nga Xô và Trung Cộng tăng viện cho Bắc Việt xua quân xâm lăng miền Nam một cách trắng trợn. Hiệp định Ba lê chẳng qua là một văn kiện mở đường cho Hoa kỳ tháo chạy trong danh dự, nuốt bỏ mọi cam kết của 5 Tổng Thống thuộc đủ hai đảng quyền lực luân phiên lănh đạo Hoa kỳ suốt thời gian dài 20 năm của cuộc chiến. Một Việt Nam Cộng Ḥa cô thế làm ǵ có đủ sức vùng vẫy chống trả bộ máy chiến tranh xâm lăng vĩ đại của thế giới Cộng sản do Nga Xô và Trung Cộng điều khiển.
     Bài học rất quư nhưng cũng rất đắt cho dân Việt v́ đă lầm tưởng các cường quốc sẽ giữ măi lời cam kết của họ. Đừng nói lời cam kết suông, thậm chí đến hiệp định hay thỏa hiệp cũng chỉ được tôn trọng khi những văn kiện này c̣n phù hợp với quyền lợi của quốc gia họ mà thôi. Trong mọi giao dịch giữa các nước trên thế giới, các nguyên tắc b́nh đẳng, công lư cũng như các lư tưởng tự do dân chủ thường được nêu lên như là mục tiêu, đồng thời cũng là kim chỉ nam cho nhân loại tiến tới một thế giới ḥa b́nh, để cho mọi quốc gia thành viên được tự do phát triển và tạo dựng phúc lợi cho nhân dân họ. Nhưng mà thực tế phũ phàng là những nguyên tắc và lư tưởng kia chỉ là kiểng vật trang trí cho những cuộc buôn bán trao đổi quyền lợi giữa những nước có thế lực. Và trong rất nhiều trường hợp, những nguyên tắc và lư tưởng kia c̣n là những bánh vẽ được dùng để lường gạt những quốc gia yếu thế hăy mạnh dạn xếp hàng “tranh đấu” cho chính nghĩa, để rồi sau đó bị bỏ rơi hoặc bán đứng không một thương xót bởi đồng minh lănh đạo, như trường hợp của Ba Lan trong đệ nhị thế chiến và Việt Nam trong chiến lược ngăn bờ chống Cộng (policy of containment) của Hoa Kỳ.
     Xuyên qua hai hiệp định mà đế quốc tư bản và cộng sản áp đặt trên đầu trên cổ của người dân Việt Nam, ai cũng nhận thấy quả thật là một bất hạnh lớn cho một nước nhược tiểu trong khoảng thời gian ngắn ngủi 20 năm đă bị hy sinh, bị bán đứng đến hai lần, qua những cuộc đổi chác bẩn thỉu và ác độc của các đại cường, làm cho hàng triệu người chết, đất nước bị tàn phá, kiệt quệ, với những di hại về môi sinh và luân lư đạo đức mà ảnh hưởng vẫn c̣n cho tới mấy chục năm sau. Thử t́m hiểu xem từ 1954 dưới thể chế “Quốc Gia Việt Nam” rồi tiếp theo đó miền Nam trải qua hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Ḥa cho đến 1975 hai miền Nam Bắc được thống nhất, đất nước có khá hơn không? Đời sống người dân hẳn có khác nhưng khác như thế nào? Để trả lời câu hỏi trên đây, thiết tưởng cũng cần kiểm điểm lại một vài khía cạnh của đời sống trước kia, so sánh với hiện trạng trong nước để nhận định xem những tiến bộ và thịnh vượng, nếu có, có tương xứng với cái giá tột cao của những hy sinh to lớn ngút ngàn của đồng bào trong mấy chục năm chiến tranh hay không.
     Thời điểm thập niên 50, lương hàng tháng của công tư chức bậc trung như thư kư, giáo viên ở vào khoảng từ 3 đến 5 ngàn đồng, tùy gia đ́nh ít hay đông con. Họ sống rất thoải mái với số lương này, chứ không phải làm thêm hai ba công việc phụ đầu tắt mặt tối như ngày nay. Nông thôn được phát triển nhờ có mấy năm hoà b́nh sau hiệp định Geneva. Nông dân làm lúa 2 hoặc 3 mùa, chăn nuôi hoặc làm rẫy và trồng cây ăn trái thu hoạch thêm nhiều lợi tức. Con họ đi học trường công, hoàn toàn miễn phí từ tiểu học đến trung học, không như ngày nay phải trả hai ba thứ học phí cho nhà nước và cho thầy cô để học thêm sau giờ là điều kiện tiên quyết để được lên lớp. Trước kia, bệnh viện công săn sóc thuốc men đầy đủ và chu đáo cho mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, chỉ khác biệt ở chỗ nghèo th́ được miễn phí, giàu th́ trả thêm lệ phí để được nằm pḥng riêng và có thức ăn ngon hơn, khác với ngày nay vừa phải trả lệ phí, vừa phải ra phố mua thuốc men điều trị. C̣n ai không tiền đóng lệ phí th́ không được nhận vào bệnh viện, có nghĩa là bị vứt ra đường một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo.
     Trước kia, dân chúng hoàn toàn tự do đi lại, từ Bắc chí Nam, khỏi phải xin phép phường ấp. Họ cũng tự do chọn nơi cư trú và khỏi phải bận tâm với nhà nước v́ không có chính sách hộ khẩu kềm kẹp khắc nghiệt người dân như ngày nay. Từ gia đ́nh ra đến ngoài hàng xóm, người dân không phải e dè sợ sệt v́ không có mạng lưới công an phường xóm ŕnh rập như bây giờ. Luật lệ được áp dụng b́nh đẳng cho mọi người dân, căn cứ trên một hệ thống công lư pháp trị trong sáng, minh bạch, để mọi công dân tốt đều có thể an ḷng vui hưởng đời sống, không phải phập pḥng lo sợ một tổ chức xă hội bằng đảng trị mà tai họa có thể giáng xuống đầu bất cứ lúc nào như ngày nay. Từ 1954 đến 1975, người dân được tự do lập hội lập đảng, tự do tín ngưỡng thờ phượng và tự do xuất bản, phát hành báo chí và tác phẩm đủ loại. Chỉ riêng tại miền Nam trước 1975, đă có trên một trăm chính đảng và trên một trăm nhật báo và tập san đủ loại do người dân chủ trương, không như ngày nay đảng Cộng sản độc quyền sinh sát, chà đạp nhân quyền, bóp chết mọi quyền tự do dân chủ. Nếu trước 1975, luân lư và đạo đức c̣n là căn bản cho mọi liên hệ và giao dịch cùng đối xử từ trong gia đ́nh ra ngoài xă hội th́ ngày nay, tư lợi và làm giàu bằng mọi cách, kể cả dối trá, lường gạt và tham nhũng, là cứu cánh của đời sống của người cai trị cũng như của kẻ bị trị.
     Không thể nào kể xiết những sự cách biệt giữa trước và sau năm 1975. Cả một thảm họa được người dân gọi tắt là “một cuộc đổi đời”. Cuộc đổi đời này rất tốt cho đảng viên cộng sản và bè phái cấu kết để ăn cắp tài sản quốc gia và ăn cướp bóc lột người dân tận xương tủy. Nhưng rất xấu xa và tồi tệ đối với người dân phải lặn hụp trong nghèo đói với lợi tức quân b́nh hàng năm 450 mỹ kim, tức là mỗi ngày độ 1.4 mỹ kim, thua tất cả các lân bang ở Đông Nam Á và thuộc vào hạng nghèo thấp nhất thế giới, đến mức phải van xin Liên Hiệp Quốc viện trợ để bài trừ nạn nghèo đói trong nước. V́ kinh tế bế tắc, v́ nghèo đói, v́ nhà cầm quyền CSVN đă bất lực không tạo được công ăn việc làm trong nước nên hàng trăm ngàn trai gái Việt Nam phải bỏ cha bỏ mẹ, bỏ nhà bỏ nước lo lót để được đi lao nô hoặc lấy chồng ngoại quốc, và trong rất nhiều trường hợp đă bị cưỡng bức hành nghề măi dâm. Thật là nhục quốc thể.
     Sau khi bị Hoa Kỳ xếp vào loại quốc gia cần được đặc biệt quan tâm về đàn áp tôn giáo, VNCS vừa bị Hoa Kỳ xếp thêm vào loại quốc gia cần được theo dơi về tệ nạn buôn người. Buôn người tức là buôn dân của ḿnh. Nếu việc BUÔN DÂN là hành động man rợ không thể tưởng tượng được ở thế kỷ 21 này th́ việc BÁN NƯỚC cũng chỉ có thể do CSVN mới táng tận lương tâm ra tay thi hành được. Thật vậy, suốt chuỗi dài một ngàn năm nô lệ giặc Tàu và trăm năm đô hộ giặc Tây, chưa hề có một vua chúa hay quốc trưởng Việt Nam nào lại nhượng bán đất đai do tiền nhân đă dày công tạo dựng.
     CSVN đang đứng trước vực thẳm, trước một hiện t́nh vô cùng nguy ngập. Bên trong, từ quần chúng cho đến nội bộ chóp bu đảng đầy bất măn, mâu thuẫn ngày càng sâu đậm vô phương hàn gắn, cộng thêm sức ép nặng nề của Trung Cộng cướp đất cướp biển từ bên ngoài. Do đó CSVN bắt buộc phải làm một cuộc đổi thay 180 độ về chính sách đối ngoại, từ đang thân Tàu đổi sang thân Hoa Kỳ. Những vậân động và trao đổi ngoại giao ráo riết từ một năm qua, từ những chuyến viếng thăm của các giới chức cao cấp như Tổng Trưởng, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, cho đến những cuộc viếng thăm Việt Nam của các chiến hạm và tàu ngầm nguyên tử tối tân nhất của Hoa Kỳ để kết thúc bằng chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Cộng sản Phan Văn Khải vào cuối tháng sáu năm nay, báo hiệu nhu cầu cấp bách đă thúc giục hai nước bước nhanh đến giai đoạn hợp tác chặt chẽ hơn trước sự bành trướng thế lực và thái độ ngày càng hung hăng của Trung Cộng, không những đối với Đài Loan mà luôn cả các lân bang khác trong vùng như Nhật Bổn, Việt Nam, v.v...
Sự chuyển hướng này của CSVN là một dấu hiệu tốt trong ngắn hạn cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên trên đường dài, lịch sử lại sẽ tái diễn với cái thế kẹt ngàn đời, trên đe dưới búa của đất nước. Nếu không thoát khỏi quỹ đạo của Trung Cộng th́ một ngày nào đó Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Trung Hoa, đại loại như Tây Tạng. Nhưng đi với Hoa Kỳ th́ cũng khó tránh trở thành một chiến trường đẫm máu trong trận chiến thư hùng giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng đang tranh giành ngôi bá chủ thế giới. Việc Trung Cộng gia tăng kinh phí cho quốc pḥng đến 2.8% tổng sản lượng quốc gia (Hoa Kỳ 3.8%), việc Trung Cộng đang ráo riết xây dựng hạm đội đă cho ai nấy đều thấy tham vọng bá quyền của Trung Cộng không những nhằm chế ngự biển Đông mà c̣n cố trải dài ra Thái B́nh Dương, ít lắm là đến tận Guam về phía Đông và tận Nam Dương về phía Nam, nhằm mục tiêu hất Hoa Kỳ ra khỏi Đông Nam Á.
     Đến đây, người đọc không khỏi đặt câu hỏi tại sao Việt Nam bị rơi măi vào cái thế kẹt giữa các lực lượng ḱnh địch quyết liệt chống nhau.
     Căn nguyên chính là do địa lư chính trị vô cùng bất lợi của đất nước.
     Thật vậy, về phía Bắc đất nước chúng ta giáp ranh với Trung Hoa là một nước khổng lồ, có một dân số đông hơn chúng ta gấp 15 lần và không bao giờ từ bỏ mộng bá chủ xâm chiếm đất nước chúng ta. Cách đây hơn bốn ngàn năm, từ căn cứ xuất phát tại vùng Động Đ́nh Hồ ở miền Bắc Nam bộ Trung Hoa, tiền nhân Giao Chỉ chúng ta đă bị người Hán xua đuổi xuống vùng Lưỡng Quảng, để rồi từ đây bị đánh dạt xuống lưu vực Nhị Hà. Tại đây tiền nhân Lạc Việt chúng ta lập quốc và từ đời quốc tổ Hùng Vương trải dài mấy ngàn năm, Ông Cha chúng ta đă dùng xương trắng máu đào của ḿnh để bảo vệ từng tấc đất để cho 80 triệu dân Việt có nơi sinh sống đến ngày hôm nay.
     Chuỗi dài 4000 năm dựng nước và giữ nước đă được sử sách lưu lại với hàng trăm lần vùng lên của dân tộc Việt để tháo gỡ xiềng xích Bắc thuộc. Nào là liệt nữ anh hùng Trưng, Triệu, tiếp theo là Lư Bôn, Lư Bí, rồi đến Lư Nam Đế cùng Triệu Quang Phục nối tiếp nhau dựng cờ khởi nghĩa. Nào là chiến công hiển hách của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Nào là chiến thắng hào hùng của Lư Thường Kiệt xua quân chiếm trọn Lưỡng Quảng. Nào là Hưng Đạo Vương đại phá quân Nguyên gây khiếp đảm cho đoàn quân Mông Cổ bách chiến bách thắng từ Á sang Âu. Nào là anh hùng Lê Lợi tiêu diệt quân Minh, chặt đầu Liễu Thăng và tha chết cho Vương Thông, để thị uy với Nhà Minh. Những kỳ công vẻ vang trên đây của Ông Cha chúng ta đă giúp nước nhà được độc lập và thanh b́nh trong một thời gian khá dài. Nhưng ba trăm năm sau giặc Minh, th́ đến lượt giặc Thanh đă khiến cho một tiền nhân khác là anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ đích thân mang quân ra tận Thăng Long để đánh đuổi bọn chúng tháo chạy về Tàu.
     Chính v́ t́nh trạng đe dọa triền miên do mộng bá quyền của kẻ thù phương Bắc cho nên ngày nay lănh tụ CSVN phải quỳ lạy van xin Trung Cộng nới tay cho bọn họ được nhờ. Nhưng vô ích. Trung Cộng đă khống chế áp lực CSVN để cướp đất và cướp biển của dân tộc Việt. Ngoài ra Tàu Cộng c̣n cho hàng hóa rẻ tiền của bọn chúng và bạc giả chuyển lậu ngang biên giới tràn ngập thị trường, giết chết nền kinh tế phôi thai của VN hầu cột buộc VN vào thế bị trị trên cả hai b́nh diện chính trị và kinh tế. Trung Cộng chỉ cần bước thêm một bước nữa là thống trị văn hóa th́ dân tộc VN sẽ đứng chung vào danh sách các sắc tộc Măn, Hồi, và Tạng cùng hàng chục bộ lạc khác vốn dĩ thuộc thành phần Bách Việt đang khóc hận bởi nạn diệt vong.
     Kiểm điểm lại mấy ngàn năm lập quốc, dân tộc Việt chúng ta cam chịu nghiệt ngă triền miên, hết ngàn năm nô lệ giặc Tàu, đến trăm năm đô hộ giặc Tây, hết giặc Nhật, giặc Mỹ, th́ đến giặc Nga, giặc Tàu, giặc cộng sản quốc tế xâm lăng, rồi đến giặc ǵ nữa đây? Sở dĩ t́nh trạng bất hạnh của đất nước không bao giờ chấm dứt là v́ địa lư chính trị vô cùng bất lợi của đất nước chúng ta. Nói rơ hơn là v́ biên giới Hoa Việt là cửa mở thiên nhiên cho ngoại xâm. Miền Nam nước Tàu và biên giới Hoa Việt c̣n là sào huyệt và căn cứ hậu cần bất khả xâm phạm cho thổ phỉ và cộng sản quốc tế quấy phá và xâm lăng nước ta từ trước đến giờ, như lịch sử cận đại đă chứng minh. Ngoài ra cũng v́ địa lư chính trị quá ư quan trọng, cho nên chỉ từ 1945 đến 1973, các đế quốc Âu Mỹ đă chia cắt đất nước chúng ta đến ba lần, qua hội nghị Postdam năm 1945, các hiệp định Geneva năm 1954 và Paris năm 1973. Nếu không có một đại hồng thủy thứ hai tràn ngập Thái B́nh Dương đểø tách rời giải đất h́nh chữ “S” ra giữa khơi Biển Đông như Phi Luật Tân th́ số phận đất nước chúng ta sẽ măi măi bị lân bang khổng lồ và các đế quốc khác cấu xé giành giậït ngàn đời.
     Trừ phi toàn dân đất nước chúng ta ư thức được địa lư chính trị vô cùng bất lợi này để ngàn người như một, kêu gào, vận động cho kỳ được Thế Giới chấp nhận cho đất nước chúng ta quy chế quốc tế VĨNH VIỄN TRUNG LẬP VÀ KHÔNG LIÊN KẾT. Quy chế này đă được ban cho rất nhiều quốc gia trên thế giới, thường là những quốc gia có địa lư chính trị chiến lược như đất nước chúng ta và chính v́ địa thế chiến lược này mà cần được trung lập hóa để tránh xung đột và chiến tranh xảy ra cho nhân loại. Cho đến nay, có nhiều quốc gia tự tuyên bố trung lập và được cộng đồng thế giới hoặc Liên Hiệp Quốc mặc nhiên chấp nhận trên thực tế hoặc chính thức công nhận bằng hiệp ước quốc tế.
     Xin liệt kê một vài trường hợp điển h́nh. Ai cũng biết Thụy Sĩ giáp ranh với Pháp, Đức, Áo và Ư. Lịch sử đă chứng minh Đức quốc là một nước hiếu chiến đă gây ra nhiều chiến tranh cho các nước Âu Châu ở thế kỷ 18 và 19, nhất là hai đại chiến đă lan rộng thành Thế Chiến 1 và 2 ở tiền bán thế kỷ 20. Do đó mà Thụy Sĩ đă được trung lập hóa. Cũng nhằm mục tiêu tránh mọi cuộc chiến mà các nước Áo, Thụy Điển, Ireland, Turkmenistan, v.v... đă được trung lập hóa. Ngoài ra có nhiều vùng nhỏ hơn một quốc gia cũng đă được trung lập hóa để ngăn ngừa mọi cuộc xung đột có thể xảy ra, ví dụ như thị xă Huningen tại tỉnh Alsace của Pháp (Hiệp định Ba Lê 18/10/1907), quần đảo Spitzbergen của Hy Lạp (Hiệp ước quốc tế 02/09/1920), eo biển Magellan, kinh đào Suez và kinh đào Panama do các hiệp ước kư năm 1881, 1888 và 1901.
     Cộng đồng hải ngoại đang có kinh nghiệm về vận động ngoại bang nên nghĩ ngay đến kế hoạch cần tiến hành trong thời kỳ hậu cộng sản, nhằêm mục tiêu vận động các đại cường cùng các cơ quan thẩm quyền của thế giới chấp nhận quy chế Trung Lập cho Việt Nam. Chỉ có quy chế Trung Lập mới bảo đảm cho đất nước khỏi nạn ngoại xâm và được đứng ngoài mọi cuộc tranh chấp giữa các đại cường hầu có đủ thời gian tái dựng lại và phát triển đất nước. Trung Lập là sinh lộ duy nhất cho Việt Nam.

     Nguyễn Bá Cẩn
    
Cựu Chủ Tịch Hạ Nghị Viện
     và Thủ Tướng Chính Phủ VNCH