Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


SÀI G̉N LUÔN LUÔN LÀ THỦ ĐÔ
CỦA NƯỚC VIỆT KHÔNG CỘNG SẢN, VÀ
CỦA NGƯỜI VIỆT TỰ DO TIẾN BỘ TRÊN THẾ GIỚI

     Từ đầu thế kỷ thứ XVII khi ông cha chúng ta từ Ngũ Quảng bắt đầu vào Nam khai phá vùng đất hoang vu ở Đồng Nai để mở màn cho công cuộc bành trướng quy mô về phương Nam của dân tộc Việt th́ danh xưng Sài G̣n đă hiện hữu trong ngôn ngữ của người lưu dân từ thuở đó. Nguồn gốc của hai chữ này như thế nào th́ cho đến giờ phút này chúng ta vẫn chưa có được giải đáp chắc chắn, chúng ta chỉ biết có những giả thuyết khác nhau về hai tiếng Sài G̣n như giả thuyết của các ông Aubaret và Garnier (người Pháp), của Pétrus Trương Vĩnh Kư, của Vương Hồng Sển, v v . . . nhưng tất cả các giả thuyết đó đều chưa đủ xác tính để thuyết phục được các học giả trong công cuộc điều tra về nguồn gốc của địa danh đặc biệt này. Tuy nhiên điều chắc chắn là hai chữ viết (theo lối chữ tượng h́nh của Tàu), phát âm theo tiếng Hán Việt là “Sài Côn” hay phát âm theo tiếng Nôm là “Sài G̣n”, th́ đă xuất hiện trong các tác phẩm khá xưa của Lê Quư Đôn (Phủ Biên Tập Lục) và Trịnh Hoài Đức (Gia Định Thành Thông Chí). Hai ông đều có dùng chữ Sài G̣n để chỉ danh vùng Sài G̣n Gia Định bây giờ. Điều này cũng nói được rằng danh xưng Sài G̣n đă có từ lâu, ngay từ thuở ông cha ta mới vào định cư sinh sống ở vùng đất Đồng Nai này. Nếu kể từ ngày công nương Ngọc Vạn về làm hoàng hậu xứ Cao Miên, mang theo cả một đoàn người Việt vào vùng đất mới hồi năm 1621, hoặc kể từ ngày Chúa Nguyễn đặt các đồn binh thu thuế ở Prei Nokor và Kas Krobei hồi năm 1623 th́ Sài G̣n đă có trong ḷng người dân Việt đă gần bốn trăm năm. Sau này người ta thường lấy năm Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam thiết lập nền hành chánh đầu tiên ở xứ Đồng Nai hồi 1698 để làm năm chính thức ra đời của thành phố Sài G̣n, xem như Thủ Đô của cả Trấn Biên (tức Biên Ḥa) và Phiên Trấn (tức Gia Định). Nhưng danh xưng Sài G̣n chắc chắn đă có trước đó khá lâu.
     Danh xưng Sà́ G̣n đă ăn sâu vào ḷng người dân Việt ở Phương Nam từ thuở xa xôi đó, và từ đó, từ tiền bán thế kỷ XVII đến giờ, thành phố mỗi ngày một phát triển thêm, tiến bộ theo đà tiến triển chung của nhân loại, trở thành Ḥn Ngọc Viễn Đông vào thế kỷ XX, hiểu theo nghĩa một thành phố quốc tế vừa đẹp đẽ vừa có giá trị của một hải cảng quan trọng mà cả thế giới đều biết và đều nhớ danh xưng quen thuộc của nó. Thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa, Sài G̣n là Thủ Đô của Miền Nam Tự Do, đối đầu với Hà Nội, Thủ Đô của Cộng Sản Bắc Việt. Nói đến Sài G̣n là nói đến chế độ chính trị tự do, đa nguyên, đa đảng chống lại chế độ độc đảng, độc tài của Cộng Sản. Nói đến Sài G̣n là nói đến nền văn minh tân tiến, nói đến xă hội rộng mở, đa dạng, khai phóng, ḥa ḿnh với thế giới tự do, khác hẳn xă hội đóng kín, sau hàng rào sắt theo kiểu các nước Nga – Tàu. Nói đến Sài G̣n là nói đến nền giáo dục khoa học, nhân bản, khai phóng, hiện đại, khác hẳn nền giáo dục uốn nắn, nhồi so, tụt hậu, theo tư tưởng Mác Lê, phát triển một chiều, chỉ cốt đào tạo những cán bộ trung kiên của chủ nghĩa. Nói đến Sài G̣n là nói đến nền văn hóa nhân bản, trong đó người nghệ sĩ hay những sáng tác gia thơ, nhạc, tiểu thuyết, cải lương đều có tự do để khai sinh những tác phẩm yêu thương của ḿnh, thai nghén theo khuynh hướng nghệ thuật riêng tư của ḿnh, chớ không bị g̣ bó, bắt buộc phải chỉ sáng tác để ca ngợi đảng, nhà nước và những lănh tụ cộng sản như Bác Hồ, Bác Mao, hay ông Lê Nin và ông Stalin bằng thứ nghệ thuật thẩm mỹ ấn định bởi xă hội chủ nghĩa Bắc Việt. Nói đến Sài G̣n là nói đến đời sống dể dăi, thoải mái của đại đa số người dân, chớ không phải đời sống khốn khổ bị ḍm ngó theo dơi từng ly từng tí, ăn con gà cũng phải xin phép của người dân Hà Nội. Tóm lại, Sài G̣n với căn cước quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của dân chủ tự do, nhân bản, khai phóng, hiện đại, tân tiến. Hà Nội với căn cước cộng sản, cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của độc tài, đóng kín, kiềm kẹp, tụt hậu. Nói chung, nếu so sánh văn hóa tự do, nhân bản, mở rộng của Sài G̣n với văn hóa xă hội chủ nghĩa khép kín của Hà Nội, người ta thấy văn hóa Sài G̣n vượt hẳn văn hóa Hà Nội về tất cả mọi mặt vào thời điểm 1975.
     Nhưng các lănh tụ ở Hà Nội đă dùng mọi cách để phủ nhận hay che dấu sự thật phủ phàng đó. Họ bắt cán bộ của họ phải học tập, thấm nhuần tư tưởng rằng Miền Bắc là ưu việt, Cộng Sản Hà Nội là số một, rằng Miền Nam nghèo khổ, tồi tệ, chậm tiến, phải chịu sự thống trị ác nghiệt của ngoại bang. Bóp méo sự thật, nói láo để tuyên truyền, bôi đen xă hội văn hóa Miền Nam, ca ngợi, đề cao sống sượng văn hóa cộng sản Bắc Việt, đó là chính sách hàng đầu của các lănh tụ Cộng Sản Hà Nội song song với việc chuẩn bị đánh chiếm Miền Nam bằng vơ lực. Tội nghiệp cho một số người Nam tập kết ra Bắc tưởng là bà con của họ ở Miền Nam thật sự nghèo khổ lắm, đói khát đáng thương nên dù họ nghèo xơ nghèo xác cũng rán để dành cái chén, đôi đủa tồi tàn để ngày trở về quê viện trợ cho thân nhân. Tội nghiệp cho các cán binh cộng sản trên đường vào xâm chiếm Miền Nam cứ nghĩ rằng họ đă được sống trong thiên đàng xă hội chủ nghĩa và giờ đây họ phải đi giải phóng Miền Nam v́ Miền Nam đang nghèo đói khổ sở trong địa ngục trần gian của Mỹ-Ngụy.
     Nhưng rồi sự thật cũng phải phơi bày khi quân Cộng Sản tiến vào được Sài G̣n. Cán bộ Cộng Sản các cấp phải chóa mắt trước cảnh rực rỡ huy hoàng của xă hôi Miền Nam: giàu hơn Hà Nội nhiều quá, tiến bộ, hiện đại hơn Hà Nội nhiều quá, có quá nhiều những tiện nghi tân tiến mà Hà Nội không có hay cũng chưa hề biết. Đối với những cán bộ cao cấp c̣n vậy huống hồ ǵ đối với những cán binh cộng sản chỉ biết có núi rừng và đời sống cam khổ trong các mật khu. Cái ǵ ở Sài G̣n cũng làm cho anh cán binh cộng sản thèm thuồng muốn có, v́ trong đời anh, anh chưa hề được thấy hay được có nó bao giờ. Những người đi tập kết ra Bắc khi trở về Sài G̣n lại càng sáng mắt ra khi họ biết được sự thật, khi họ thấy rơ sự giàu có, thịnh vượng của bà con thân nhân họ nơi quê nhà. Đồng hồ, bút máy, đồ trang sức, quần áo đủ kiểu, đủ loại, tiệm ăn, quán cà phê, rạp hát,  xe cộ, radio, vô tuyến truyền h́nh, tủ lạnh, máy giặt, phố xá, villa, nhà cửa sang trọng vô cùng, tất cả từng ấy thứ đầy dẩy ở Sài G̣n. Hà Nội không được một măy may nào của Sài G̣n. Đó là cái hiển nhiên, rất rơ ràng về vật chất. Cái khó thấy hơn là dân trí, là ư thức, là sự hiểu biết của người dân, là tín ngưởng và tư tưởng của họ ở đằng sau bề mặt văn minh vật chất đó. Cái đó thuộc lănh vực tinh thần nhiều hơn, thuộc về văn hóa, hay văn minh tinh thần, rất khó đánh giá hay đo lường một cách vô tư công bằng bằng những cái nh́n nông cạn. Lẽ dĩ nhiên là người Cộng Sản phải phủ nhận giá trị văn hóa của Miền Nam, phải đánh giá thật thấp tŕnh độ văn hóa Sài G̣n, để đề cao, ca tụng tính ưu việt của văn hóa Miền Bắc, hay văn hóa cộng sản Hà Nội.. Và điều này rất dễ làm (lên tiếng phủ nhận, lên tiếng nhận định, phán xét), dễ nói, v́ chẳng có ǵ chứng minh được trong lúc đó. Nó chỉ được chứng minh dần dần theo thời gian, với những hậu quả xă hội mà việc làm của người cộng sản đă thể hiện trong nhiều địa hạt. Dần dần người ta thấy rơ hơn sự kém cỏi của cộng sản Hà Nội trong nhiều lănh vực hết sức quan trọng như kinh tế, quản trị, giáo dục, y tế, công chánh, v v . . . Vậy th́ cái ưu việt của văn hóa xă hội cộng sản Bắc Việt mà các lănh tụ đảng hết ḷng ca ngợi đó nó nằm ở chổ nào? Dân chúng cũng như đa số cán bộ cộng sản bắt đầu thấy rơ dần sự rổng tuếch trong tính cách ưu việt của Miền Bắc mà đảng thường rêu rao. Các lănh tụ cộng sản không thể không nh́n thấy sự thật trớ trêu đó. Mặc dù họ đă tiên liệu trước và đă đưa ra những biện pháp để cốt làm cho sự tuyên truyền của họ trỡ thành sự thật họ muốn, nhưng những biện pháp đưa ra vẫn không che dấu được sự thật đúng thật. Những biện pháp của họ đề ra lại hết sức thiển cận, gây nhiều hậu quả tai hại cho đất nước, cho dân tộc, mà lịch sử sau này không thể nào không lên án được.
     Vừa chiến thắng, Cộng Sản Hà Nội cho thi hành ngay một số các biện pháp vô đạo đức, phi nhân bản, phản dân tộc, độc ác không thua ǵ những biện pháp tàn nhẫn của Stalin và Mao Trạch Đông ở các nước Nga, Tàu. Những biện pháp đó là:
     Thứ nhất: Xóa bỏ chế độ tự do của Sài G̣n bằng cách bắt đi tù cải tạo tất cả quân, cán, chính Việt Nam Cộng Ḥa. Làm thế nào tẩy nảo, bôi xóa hết tàn tích của chế độ tự do cũ trong đầu óc tù nhân. Gây ở họ ấn tượng NGỤY QUÂN làm tay sai cho MỸ phản lại quyền lợi của dân tộc, gây ở họ măc cảm tội lỗi là phản dân, phản nước. Không cho họ c̣n được quyền nghĩ rằng họ có chánh nghĩa, họ đă từng hy sinh chiến đấu cho tự do dân chủ, cho sư phồn thịnh, tiến bộ của Miền Nam, của chế độ nhân bản Việt Nam Cộng Ḥa.
    Thứ hai: Chở hết tài sản của chánh phủ Sài G̣n về Hà Nội. Tất cả những máy móc từ máy IBM đến các máy computer khác, máy đánh chử, máy tính, các loại máy móc về truyền tin, các dụng cụ trang bị văn pḥng, kể cả bàn ghế, đều được chở hết về Hà Nội để trang bị cho các cơ sở ngoài đó để cho thấy Hà Nội văn minh hơn Sài G̣n.
     Thứ ba: Cướp hết tài sản của dân Sài G̣n. Từ cách đổi tiền nhiều lần đến các lượt đánh phá tư sản mại bản, chánh quyền cộng sản đă cướp hết tài sản của người dân Miền Nam. Lấy hết vàng của người dân để tống cổ họ ra nước ngoài. Bắt họ phải giao nhà cửa cho chánh quyền khi họ ra đi. Cốt để san bằng Sài G̣n, cho dân Sài G̣n trỡ thành vô sản, đói khổ, để cho thấy dân Hà Nội giàu có hơn dân Sài G̣n nhiều lắm.
     Thứ tư: Xóa bỏ nền văn hóa Miền Nam mà Sài G̣n là biểu tượng bằng cách đổi tên thành phố Sài G̣n, đổi tên các trường trung học lớn, nổi tiếng ở Miền Nam như Pétrus Kư, Gia Long, Phan Thanh Giản. Dẹp hết các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản của tư nhân. Lấy tên Hồ Chí Minh thay vào tên Sài G̣n. Lấy tên Lê Hồng Phong thay cho Pétrus Kư, và Nguyễn Thị Minh Khai thay cho Gia Long. (Chuyện t́nh tay ba giữa Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Minh Khai với Lê Hồng Phong đă được nhiều người phanh phui, không có ǵ tốt đẹp đáng để được người đời ca trụng, chỉ đáng được chê bai). Đem Hồ Chí Minh (rất kém tư cách đạo đức lại là người đem nguy hại đến cho dân Việt Nam) vào chổ Sài G̣n làm biểu tượng của nền văn hóa Miền Nam th́ thật là một điều sĩ nhục cho dân miền này (chớ không phải là một danh dự như người Cộng Sản thường nói). Pétrus Kư và Gia Long là hai trường trung học nổi tiếng xưa nay ở thủ đô Nam Kỳ Lục Tỉnh, nơi đào tạo không biết bao nhiều trí thức cho Miền Nam, bây giờ cũng bị bỏ đi để thay vào bằng những cái tên cộng sản mà người Miền Nam cảm thấy hoàn toàn xa lạ. Pétrus Kư là nhà bác học là người rất có công đối với nền văn học chữ Quốc Ngữ và nền văn hóa mới ở Miền Nam. Ông xứng đáng được đứng tên cho trường trung học lớn nhất và nổi tiếng nhất ở Miền này. Lê Hồng Phong chỉ là một cán bộ cộng sản, chẳng có một chút sự nghiệp ǵ về văn hóa đáng được đem vào trường trung học nổi tiếng của Miền Nam. Từ xưa tới giờ chưa có chánh phủ nào lựa chọn đặt tên thành phố, trường học, đường sá một cách bừa băi, sống sượng, thiếu suy tư như chánh quyền cộng sản Hà Nội. Nước Việt Nam từ xa xưa đến giờ có nhiều anh hùng có cả ông tổ bắt đầu dựng nước, vậy mà dân Việt Nam có bao giờ lấy tên họ đặt cho một thành phố lớn hay một thủ đô đâu. Có bao giờ ta đặt tên thành phố Hà Nội hay Thăng Long là thành phố Hùng Vương hay thành phố Trần Hưng Đạo, hoặc thành phố Quang Trung đâu. Địa danh là địa danh, ta không bắt chước cộng sản Nga lấy tên anh hùng cộng sản đặt tên cho một thành phố. Chỉ có Cộng Sản Hà Nội mới bắt chước một cách mù quáng cộng sản Nga Sô đem tên Hồ Chí Minh thay vào tên Sài G̣n vốn đă được người dân Nam yêu thương gắn bó từ bao thế kỷ. Cũng trong chính sách xóa bỏ văn hóa Miền Nam đó, Cộng Sản Bắc Việt t́m mọi cách hạ bệ những trí thức, những kẻ sĩ, những nhà văn hóa được người dân Miền Nam thương kính sùng bái, thờ phụng. Kết tội Phan Thanh Giản, kết tội Petrus Kư, bôi xóa tên các vua chúa nhà Nguyễn cùng các công thần trên các con đường thành phố.
     Thứ năm: Thay thế nền giáo dục nhân bản, khai phóng, hiện đại của Việt Nam Cộng Ḥa bằng sự giáo dục nhồi sọ, gieo rắc hận thù, chậm tiến, không hiệu năng của chánh quyền Hà Nội. Đem cán bộ Cộng Sản tốt nghiệp từ các nước Cộng Sản Nga và Đông Âu, mà kiến thức chuyên môn rất yếu kém, thay thế các nhà trí thức, giáo sư có nhiều uy tín, học vấn uyên thâm của Miền Nam. Nhiều giáo sư giỏi, nhiều trí thức, học giả có tiếng của Miền Nam phải t́m mọi cách trốn ra khỏi Việt Nam. Chất xám thật sự của đất nước đă ra nước ngoài. Những người làm giáo dục sau 1975 chỉ là những người của đảng, có nhiều năm thâm niên với đảng hơn là có đủ kiến thức chuyên môn, tân tiến, để có thể tiếp nối công tŕnh giáo dục nhân bản, khoa học và hiện đại của Miền Nam tự do. (Đó là lư do cho thấy tại sao giáo dục ở Việt Nam từ sau 1975 đă tụt hậu thê thảm trong mấy mươi năm qua, đến chổ gần như không c̣n giá trị ǵ nữa với sự lạm phát quá mức các loại  bắng cấp to với số người  mệnh danh là Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, của chế độ cộng sản Việt Nam hiện hữu.) 
     Thứ sáu: Tổ chức kiểm soát chặt chẻ đời sống của người dân.  Xóa bỏ tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do đi lại, tự do làm ăn buôn bán. Quốc doanh hóa tất cả các xí nghiệp. Nhà nước Cộng Sản dành độc quyền kinh tế. Người dân chỉ biết phải làm việc, sản xuất theo lệnh chính phủ, và chỉ được quyền ăn, mặc những ǵ chính quyền ấn định hay cho phép.
     Thứ bảy: Tiếp tục nói láo. Tiếp tục nói rằng Hà Nội rất văn minh, tân tiến, Hà Nội ưu việt, tất cả cái ǵ của Hà Nội cũng đều hơn hẳn Sài G̣n. V́ thế mới có bao nhiêu những mẫu chuyện để người dân Sài G̣n mặc sức chế diểu những tên “cán ngố”, những kẻ dốt nát, láo khoét, cà chớn của đám thực dân mới do chế độ Hà Nội đưa vào. (Hà Nội thiếu ǵ cà lem, ăn không hết phải đem phơi khô. Refrigerator thiếu ǵ ở Hà Nội, nó chạy đầy đường. Phi cơ Nga Sô th́ đậu trên không trung . . .)
     Thứ tám: Chính sách dùng người hẹp ḥi, bao che, chỉ dùng đảng viên trong các chức vụ điều hành, chỉ huy (theo chủ trương hồng hơn chuyên). Dẹp bỏ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Cho ra ŕa những người theo Cộng Sản mà không có gốc đảng viên cộng sản. Đám 30, đám người cơ hội thừa nước đục thả câu được cho ra ngoài, ra khỏi chánh quyền, hoặc ở những chức vị ngồi chơi xơi nước. Chỉ dùng người của đảng dù là rất dốt về chuyên môn, với những bác sĩ, những kỷ sư, những ông tiến sĩ, rất kém khả năng chuyên môn, không có kiến thức ǵ cả trong ngành, thành ra tất cả các ngành đều đi đến chổ vô cùng tồi tệ trong những năm liền sau khi Cộng Sản Hà Nội chiếm được Sài G̣n. Những năm cai trị của Lê Duẫn là những năm tồi tệ nhất cho người dân và xă hội Miền Nam, tồi tệ chưa từng thấy trong lịch sử của vùng này từ ngày thành h́nh cho đến 1975.
     Thứ chín: Độc tài văn hóa. Ép buộc người dân Việt ở mọi nơi phải theo văn hóa Hà Nội, văn hóa Cộng Sản Bắc Việt. Dưới chiêu bài “thống nhất đất nước” người cộng sản muốn thống nhất tất cả dưới một hệ thống văn hóa duy nhất là văn hóa Hà Nội. Người Việt ở khắp mọi nơi, mọi miền đều phải nói một thứ tiếng, viết một thứ chữ, học một thứ tư tưởng, tin một thứ giáo điều. Tân Sơn Nhứt trở thành Tân Sơn Nhất, Vơ Tánh thành Vũ Tính, Ngô Tùng Châu phải đổi lại là Ngô Ṭng Chu. Không có tín ngưởng, tôn giáo ǵ khác hơn là Mác, Lê Nin. Không có Phật, không có Chúa, không có Cao Đài, không có Huỳnh Giáo Chủ. Chỉ có Hồ Chí Minh. Phải treo h́nh Hồ Chí Minh để thờ ở mọi nơi, trong đ́nh, trong miếu. . . Không có tư tưởng ǵ khác hơn tư tưởng Hồ Chí Minh (mà thật sự chính ông Hồ lại nói ông ta chẳng có tư tưởng ǵ cả, ông ta chỉ áp dụng tư tưởng Mao Trạch Đông và Stalin). Phải viết báo, phải sáng tác theo đúng con đường đảng và nhà nước cộng sản vạch ra.
     Thứ mười: Sửa đổi lịch sử, sửa đổi quan niệm về chiến tranh ở Việt Nam, biến Cộng Sản Bắc Việt thành anh hùng yêu nước đánh quỵ bọn xâm lăng Pháp, Mỹ, biến các chiến sĩ quốc gia thành những kẻ Ngụy đánh giặc mướn cho Pháp và cho Mỹ. Chỉ có Cộng Sản mới có chính nghĩa c̣n tất cả những người có tinh thần quốc gia khác đều là những kẻ Ngụy. Chiến tranh Việt Nam phải được quan niệm theo Hà Nội là chiến tranh giữa Cộng Sản Bắc Việt (đại diên cho nhân dân Việt Nam) và Mỹ chớ không phải chiến tranh giữa người Việt Cộng Sản (mà Hà Nội là đại diện) và người Việt Quốc Gia mà đại diện là Sài G̣n theo quan niệm của người Việt Quốc Gia hay người Việt Tự Do. Theo quan niệm đó của Cộng Sản th́ người Việt Quốc Gia và chánh quyền Việt Nam Cộng Ḥa chỉ là công cụ của Mỹ. Lịch sử Việt Nam phải được viết lại theo đường hướng đó của Hà Nội dù có phải bóp méo sự thật.
     Hậu quả là Miền Nam tự do, tân tiến, giàu có đă trở nên kiệt quệ, suy tàn, đổ nát, người dân khốn khổ trăm phần. Từ cảnh một thiên đàng bổng tụt xuống trở thành địa ngục, thành ra ai ai cũng phải t́m mọi cách ra đi để thoát khỏi địa ngục trần gian của Cộng Sản. Thậm chí người ta c̣n nói “nếu cây cột đèn mà đi được th́ nó cũng ra đi” để diễn tả t́nh trạng khốn khổ không c̣n cách ǵ chịu nổi của người dân Miền Nam khi cộng sản Hà Nội nắm quyền cai trị ở đây. Dù chết trên biển cả hay trong rừng sâu, dù nguy hiểm cách nào họ cũng phải cố vượt qua để ra khỏi cảnh địa ngục trần gian mà Cộng Sản Hà Nội đă mang đến cho họ dưới cái danh nghĩa thật đẹp là “Giải Phóng Miền Nam” và “Thống Nhất Đất Nước.” Hăy đừng quên 10 năm vô vàn khốn khổ của người dân Miền Nam sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền này để thấy rơ chủ trương xóa bỏ văn hóa và căn cước quốc gia của người Việt ở phương Nam của Cộng Sản Bắc Việt nó ác hại, tàn độc như thế nào. Hăy đừng quên những câu ca dao thật mỉa mai này:
     “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lư,
       Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.”
    “Đả đảo Thiệu Kỳ mua ǵ cũng có,
     Hoan hô Hồ Chí Minh mua cây đinh cũng chẳng c̣n.”
    “Đôi dép râu dẩm nát đời trai trẻ’
     Mũ tai bèo che khuất ánh tương lai.”
     Nhưng rồi cũng có một số khá đông người Việt Quốc Gia, người dân Miền Nam không cộng sản, đến được bờ tự do. Họ biết họ là những người tỵ nạn cộng sản. Họ biết họ là người Quốc Gia, mang căn cước người Việt Quốc Gia không cộng sản, với cờ vàng ba sọc đỏ, thắm nhuần văn hóa nhân bản, hiện đại, khai phóng của Sài G̣n. Họ không chấp nhận chế độ độc tài, duy vật hẹp ḥi của Cộng Sản. Họ t́m cách chống đối chánh quyền Hà Nội  ở mọi nơi, ở bất cứ chổ nào Hà Nội với tay tới. Họ rất thành công hoặc có con cháu rất thành công trong các xă hội tự do, dân chủ, tân tiến trên thế giới. Người Cộng Sản bây giờ đă thấy rơ, và đă phải nh́n  nhận giá trị lớn lao (về vật chất lẫn tinh thần) của thành phần người Việt tỵ nạn này. Người Cộng Sản muốn ve văn, muốn đem số người này về với chế độ. “Khúc ruột ngoài ngàn dặm” được xử dụng để chỉ danh đám người ngụy trước kia và con cháu họ đă trốn khỏi chế độ cộng sản. Chiêu bài mới được tung ra để thay cho những chiêu bài cũ. Vấn đề ḥa hợp, ḥa giải được đẩy mạnh củng cố bằng nghị quyết 36 thay cho những khẩu hiệu “giải phóng Miền Nam” và “thống nhất đất nước”.
     (Nghị Quyết số 36 do Phan Diễn, Ủy Viên Bộ Chính Trị, kư ngày 26 tháng 3 năm 2004 gồm bốn phần: (1) phần thứ nhất là phần nhận định về công tác Việt Kiều vận trong thời gian qua, (2) phần thứ hai đề ra phương hướng công tác trong thời gian tới, (3) phần thứ ba nêu những nhiệm vụ chủ yếu của công tác Việt Kiều vận, và (4) phần thứ tư đề cập đến các tổ chức/cơ quan lănh nhiệm vụ thực hiện công tác này.
     Mở đầu phần một, bản nghị quyết cho thấy chính quyền Cộng Sản đă nh́n về tập thể người Việt ở hải ngoại với cái nh́n khá đặc biệt. Trước nhất đây là một tập thể thành công lớn lao về phương diện học thức, cũng như về kinh tế, so với tập thể người Việt trong nước. Tập thể này có một tiềm năng hết sức lớn lao trong việc phát triển xứ sở. Nếu có thể thu hút được số người này về phụng sự cho quê hương đất nước th́ chính quyền Cộng Sản hiện hữu sẽ gặt hái được nhửng thắng lợi to tát. Từ cái nh́n đặc biệt đó, nghị quyết viết: “Đảng và Nhà Nước luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc VN, đă đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật.” Để đạt được mục tiêu này các “công tác thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng từng bước được tăng cường, nhất là trong lănh vực phát thanh, truyền h́nh và qua mạng internet.”)
      Nhưng tập thể người Việt hải ngoại này mang “căn cước tinh thần” là người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản, với cờ vàng ba sọc đỏ, với văn hóa Sài G̣n chớ không mang căn cước cộng sản, với cờ đỏ sao vàng và văn hóa Hà Nội. Muốn có ḥa hợp ḥa giải, hay đúng hơn, muốn cho sự ḥa giải ḥa hợp thật sự có hiệu quả th́ phải làm sao thay đổi cho được căn cước của người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản. Phải làm sao xóa bỏ căn cước tỵ nạn cộng sản, xóa bỏ cờ vàng ba sọc đỏ, xóa bỏ văn hóa Sài G̣n c̣n ở trong người họ đi, rồi tạo cho họ một căn cước mới với cờ đỏ sao vàng, với văn hóa Hà Nội và với tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xă hội. Chương tŕnh bôi xóa cái cũ làm lại cái mới đó được gọi là “tái xây dựng” (reconstructing) diện mạo (hay căn cước) và quê hương trong những người Việt hải ngoại.
     (Cách đây hơn năm năm, vào khoảng cuối năm 1998, các ông Nguyễn Bá Chung và tiến sĩ Bowen của Trung tâm Nghiên Cứu William Joiner Center trường đại học Massachusetts Boston (UMass Boston) có làm đề nghị xin tiền của cơ quan Rockefeller để thực hiện một công cuộc nghiên cứu mang tên “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora.”  (Tái tạo căn cước và quê hương trong nhóm người Việt Nam lưu vong). Đây là một công cuộc nghiên cứu thuộc lănh vực văn hóa và tâm lư xă hội (socio-cultural psychology) nhằm t́m hiểu identity (nhân dạng hay căn cước) của người Việt Nam hải ngoại để từ đó t́m biện pháp sửa đổi identity đó làm cho nó trở thành identity của một người Việt Nam giống như những người Việt Nam hiện đang sống trong xă hội Việt Nam dưới chề độ cộng sản. Những người đặt tên cho chương tŕnh này có thể nghĩ rằng cái identity của người Việt tỵ nạn cộng sản là một identity sai lạc cần phải tái tạo lại cho đúng cũng như cho họ có cái nh́n đúng hơn về quê hương của họ ở đâu để họ biết đúng nơi chốn mà phụng sự tổ quốc. Đây là một tiến tŕnh thay đổi hết sức quan trọng về phương diện tâm lư xă hội làm nền tảng cho những thay đổi khác trong thái độ chính trị của người Việt tỵ nạn đối với chế độ hiện tại ở Việt Nam. Trong lănh vực khoa học nhân văn, khi tôi nói identity của tôi là tôi muốn nói đến những đặc tính tâm lư xă hội nào đó của tôi, và những đặc tính tâm lư xă hội đó cho phép tôi nhận ra tôi, khác với những người khác ở chỗ nào. Tôi tạm gọi nó là “căn cước tinh thần” của tôi. Nó cũng như cái thẻ căn cước, về phương diện vật chất của tôi, cho phép người ta nhận ra h́nh dáng của người mang thẻ là tôi vậy. Các nhà khoa học nhân văn nhận thấy mỗi người có cái identity (tinh thần) của ḿnh, gồm một số những đặc tính văn hóa, xă hội, chính trị nào đó. Người Việt Nam cộng sản mang căn cước cộng sản, gắn liền với chủ thuyết Mác Lê, với vô sản chuyên chính, với tư tưởng Hồ Chí Minh, với chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng 1975. Họ được đồng hóa (identified) với một số những đặc tính văn hóa, xă hội, chính trị nào đó mà khi nh́n họ ta thấy họ mang nhăn hiệu cộng sản với bảng hiệu cờ đỏ sao vàng chẳng hạn. Ngược lại phần đông người Việt hải ngoại hiện nay mang những đặc tính văn hóa, xă hội, chính trị khác hơn người cộng sản. Họ mang identity (căn cước tinh thần) của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản, với bảng hiệu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Họ được đồng hóa với tự do, dân chủ, đa nguyên, đa văn hóa, tiến bộ, không chấp nhận chế độ cộng sản, và có thể triệt để chống Cộng Sản Hà Nội. Mục tiêu của chương tŕnh nghiên cứu của UMass Boston là giúp t́m giải pháp biến đổi căn cước tinh thần của người Quốc Gia làm cho nó trở thành căn cước của người Việt hải ngoại hội nhập vào xă hội Việt Nam hiện nay. Cái nh́n và hướng đi của những người đẻ ra chương tŕnh này không khác cái nh́n và hướng đi của cộng sản Hà Nội trong chính sách ḥa giải ḥa hợp, đại đoàn kết quốc gia (theo đường hướng Cộng Sản) mà người cộng sản đă nghĩ tới từ lâu. V́ vậy nên ngay khi bắt đầu, Trung Tâm WJC đă tuyển ngay hai học giả cộng sản của Hà Nội vào làm công việc nghiên cứu này, và cũng v́ thế mà một nhóm người Quốc Gia, mà đại diện là ông Nguyễn Hữu Luyện ở Boston, đă mạnh mẽ phản đối bằng cách khởi tố Trung Tâm WJC của trường đại học UMass về vụ này trong mấy năm qua.)
     Trước chủ trương biến đổi căn cước người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản thành người Việt của xă hội chủ nghĩa, người Việt Quốc Gia không cộng sản ở hải ngoại cần phải làm ǵ? Câu trả lời là bảo vệ căn cước của ḿnh và duy tŕ căn cước đó ở nơi con cháu ḿnh, đừng để mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Bảo vệ căn cước Quốc Gia không cộng sản của ḿnh bằng cách:
     Luôn luôn và luôn luôn:
     Bảo vệ và nêu cao CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
     Bảo vệ và nêu cao danh xưng  SÀI G̉N. V́ Sài G̣n là Thủ Đô của Miền Nam Tự Do, Sài G̣n là Thủ Đô văn hóa của người Việt Quốc Gia không cộng sản.
     Xác nhận ḿnh là người Việt tự do, tiến bộ, không chấp nhận độc tài đảng trị, không chấp nhận chủ nghĩa xă hội.
     Nêu cao tinh thần tự do trong nghệ thuật, trong tư tưởng, tín ngưởng, tôn giáo, trong truyền thông báo chí.
     Ghi nhớ ḿnh là người tỵ nạn cộng sản.
     Đ̣i phải trả tên Sài G̣n lại cho thành phố Sài G̣n, trả tên trường Petrus Kư lại cho trường Petrus Kư, trả tên trường Gia Long lại cho trường Gia Long, trả tên trường Phan Thanh Giản lại cho trường Phan Thanh Giản, trả tên trường Lê Văn Duyệt lại cho trường Lê Văn Duyệt, v v . . .       

 Tiến Sĩ  Nguyễn Thanh Liêm