NỖI
ĐAU CỦA TRÍ THỨC MIỀN NAM QUA BIẾN CỐ 1975
TRƯỜNG
HỢP GS TIẾN SĨ NGUYỄN DUY XUÂN
Nguyễn Bá Lộc
Trong tháng trước, tôi có nhận từ người bạn, bài báo
với chủ đề “Báo cáo kinh tế thường niên ĐBSCL 2020”
đăng trên Tập san Người Đô Thị (https://uploads.nguoidothi.net.vn)
ngày 18-2-2021, tờ báo nầy phát hành ở VN. Trong Tâp san
nầy có một bài nói về Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân, có
cái tựa “Từ Báo cáo kinh tế thường niên đồng bằng sông Cửu
long: Tiếc nuối một con người”. Ở một đoạn khác có câu” GS
Nguyên Duy Xuân có thiện tâm ở lại phục vụ đất nước trong
ḥa b́nh”. Và ở một đọan khác của bài báo đó, có nhận định “
Nếu những người như GS Nguyễn Duy Xuân không bị đối xử quá
nghiệt ngă, nếu tài năng của họ được dùng đúng chỗ, đúng tầm
sau 1975, liệu ĐBSCL ngày nay có phải đứng trước những thử
thách sống c̣n như trong Báo cáo kinh tế thương niên ĐBSCL
nói ở trên nhắc tới”.
Các ư trong bài báo nói trên về GS Nguyễn Duy Xuân
làm tôi suy nghĩ, từ một góc độ nào đó, từ một cảm tính nào
đó, tác giả hay bất cứ một người nào đó có thể nói sự “nuối
tiếc”, tôi không ư kiến hôm nay. Có một điều nếu không nói
ra th́ thực là đáng trách. Đó là những nhận xét sai lệch về
lập trường quốc gia chơn chánh, về tinh thần phục vụ và hy
sinh cao cả chấp nhận hiểm nguy của GS Xuân, cuối cùng ông
phải bị nhận cái chết thảm thương trong trại tù CS.
Thứ nữa, GS Nguyễn Duy Xuân là người thầy được các
cựu sinh viên Quốc gia Hành chánh kinh trọng, tong đó có tôi.
Sau khi ra trường, tôi có nhiều dịp hầu chuyện, học hỏi và
hiểu thầy Xuân, nhứt là những ngày cận kề biến cố 1975. Bởi
vậy, sau nhiều suy nghĩ, tôi cảm thấy có bổn phận giải bày ở
đây một số điều, mà báo ở trên, nhận xét sai GS Xuân về đạo
đức chánh trị, cái trách nhiệm của một sĩ phu, và cái chánh
nghĩa của đại đa số trí thức miền Nam.
Như vậy câu chuyện được tóm tắt qua hai phần:
Về trường hợp GS Nguyên duy Xuân và
Về nỗi đau của trí thức miền Nam, qua biến cố 1975.
Thứ nhứt, Trường hợp GS Nguyễn Duy Xuân
.
Có mấy điểm xin nêu ra đây (Tôi mạn phép khi kể về
câu chuyên GS Nguyễn Duy Xuân, tôi xin nói chút về tôi trong
những cơ hội hay tương quan giữa tôi và thầy, như một xác
nhận qua những ǵ tôi nói là có thật):
GS Xuân là một trí thức chơn chánh và có đạo đức.
Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng như các nhà trí thức có
học vị Tiến sĩ miền Nam lúc bấy giờ đă phải khổ công rất lớn
trên con đường theo đuổi học vị nầy. Ông tốt nghiệp Cử nhân
kinh tế ở Pháp, Cao học kinh tế ở Anh và Tiến sĩ kinh tế ở
Mỹ qua ba giai đoạn không liên tục. Giáo sư tiếp thu được
kiến thức rất tốt của đại học tại ba quốc gia hàng đầu về
học vấn đại học. Ngoài ra ông đă kết hợp được kinh nghiệm
thực tế qua nhiều chức vụ quan trọng, trong các giai đoạn
giữa ba chương tŕnh học đại học. Yếu tố đó cộng với đạo đức
cá nhân đưa ông đến sự trọng dụng và mến phục. Dù ông ít nói,
nhưng lúc nào gặp ông thường đề cập tới trách nhiệm. Ông có
cuộc sống khá thanh đạm.
Sự hợp nhứt tri hành của GS thấy đươc qua các chức
vụ và địa vị của ông trong Bộ máy Công quyền hay Giáo sư đại
học của giai đoạn đầu xây dựng miền Nam. Ông là một trong
rất ít GS ở Học Viện QGHC, lúc đó c̣n rất ít Tiến sĩ từ Mỹ
về . Khóa tôi được ông dạy khi mới về nước. Ngoài ra, sau
nầy, cá nhân tôi có một số dịp gặp ông nhiều hơn khi tôi làm
Luận văn Cao học mà đề tài là “Tín dụng và Phát triển
kinh tế”, tôi cần tham khảo nội dung luận án Tiến sĩ của
GS có chủ đề gần gần như vậy, và được học hỏi kinh nghiệm
khi ông làm Tổng giám đốc Quốc gia Nông tín cuộc.
GS Xuân có tầm nh́n chiến lược.
Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế, ngoài việc dạy
học, GS Xuân c̣n giữ một số chức vụ quan trọng. Lần lượt,
Tổng trưởng Kinh tế (1965?), Phụ tá Đặc biệt Tổng Thống
(1968), Viện Trưởng Viện Đại học Cần Thơ (1971) và Tổng
trưởng Giáo dục (1975).
Dù ở vị trí và vai tṛ nào GS luôn tỏ ra có tầm nh́n
chiến lược và coi trọng trách nhiệm của một kẻ sĩ dấn thân.
Xin kể ra đây một vài trường hợp mà tôi biết. .
Khi là Bộ trưởng kinh tế (khoảng 1965), ông rất chú
trọng sự phát triển Kinh tế nông nghiệp là nền tảng cho kinh
tế tự túc tự cường. Năm 1965, Ông thành lập Nha Thanh tra
kinh tế Miền Tây (Đồng bằng sông Cửu Long), trước đó chỉ có
Nha Thanh tra kinh tế Miến Trung (Vùng I), và Nha kinh tế
Cao nguyên Trung phần (Vùng II). Tới 1974 các Nha nầy được
đổi tên thành Nha Phối hợp kinh tế địa phương (cấp vùng).
Tôi phụ trách Nha kinh tế nầy từ 1968 đến 1975. Cũng như khi
làm Tổng Giám đốc Quốc gia Nông tín cuộc trước đó, (khoảng
1958), ông mở rộng các Ty Nông tín cuộc khắp miền Nam.
Về phương diện kinh tế, GS Xuân là người đứng ra
thành lập Hội kinh tế VN đầu tiên, gồm một số Tiến sĩ, một
số chuyên gia, chuyên viên kinh tế, và Hội ra mắt vào khoảng
1970 .
Khi GS làm Viện trưởng Viện Đại học Cần thơ (vào
khoảng 1972), tôi có dịp gặp GS nhiều hơn, học hỏi ở GS
nhiều hơn, v́ lúc đó tôi c̣n đang phụ trách Nha Thanh tra
kinh tế/ Nha Phối hợp kinh tế Vùng IV. Và đồng thời tôi là
Giảng viên ở Phân khoa Luật và Xă hội học thuộc Đại học Cần
Thơ. Trong quảng thời gian nầy, với vai tṛ Viện trưởng, GS
lại có dịp đẩy mạnh quan điểm phát triển kinh tế nông nghiệp
qua một số chủ trương như: Cho nhiều kỹ sư nông nghiệp đi
học thêm hay tu nghiệp. Đại học Cần thơ nhận được nhiều viện
trợ hơn để phát triển tốt hơn, nhứt là từ chánh phủ Nhựt. GS
thành lập chương tŕnh đào tạo Giáo sư cơ hữu cho Đại học
Cần Thơ mà hai ngành chánh là Nông nghiệp và kinh tế. Đây là
chương tŕnh phối hợp qua hai bên, của hai Đại học Cần Thơ,
và một Đại học ngoại quốc, Hoa kỳ, Nhựt, và Anh. (Tôi được
cho tham gia vào chương tŕnh nầy và v́ vậy phải gặp thầy
nhiều hơn). Chương tŕnh bị chết năm 1975.
Cũng trong quan niệm, giúp nông dân có hiểu biết hơn,
lợi tức họ tăng hơn th́ cách tốt nhứt để con cái họ có học
vấn cao hơn, và do đó ư thức chánh trị sẽ khá hơn, đúng hơn.
Năm 1973, ông cho thêm vào chương tŕnh Đại học Sư phạm, môn
phụ “Thương mại hóa nông sản”.
ĐBSCL trước kia là hy vọng là căn bản cho kinh tế
miền Nam, ngày nay bị suy tàn và có quá nhiều trở ngại v́
vậy trong Báo cáo thường niên năm 2020, họ có cảm nghĩ phải
chi c̣n GS Xuân hay đúng ra c̣n áp dụng kế hoạch của GS Xuân
th́ vùng nầy đâu có bị hủy hoại như ngày nay. Thực sự, sự
suy sụp của ĐBSCL, chánh yếu là do sự áp đảo của Trung cộng
xây nhiều đập thủy diện ở thượng nguồn, mà VN không dám
chống lại. Mặc khác, dù GS Xuân c̣n sống và được làm việc
lại, ông cũng không đóng góp ǵ được trong chế độ nầy. Đó
là một kinh nghiệm, một nhận xét của một số nhà trí thức
trong nước và từ nước ngoài về sau 1975.
GS Xuân có lập trường Quốc gia Dân tộc và chấp nhận
hiểm nguy.
Đây là điểm chánh mà thấy cần nói ra. V́ chỉ đọc qua
bài báo trong Tập san Người Đô Thi nói trên, hay bài báo nào
ở VN, th́ sẽ có nhiều người hoang mang, hay hơn nữa, có thể
trách ông về lập trường chánh trị lúc thời thế đổi thay.
Nhưng những ngày trong tháng tư/75, tôi thường gặp
GS hơn, nên biết khá rơ ràng GS vẫn giữ lập trường trước sau
như một: không bao giờ theo CS, kể cả nghiêng qua thành phần
thứ ba, như một số ít trí thức lúc đó đă làm. Tôi có thể kể,
mà tưởng như mới ngày nào.
Một lần tôi đến văn pḥng ông ở Đại học Cần Thơ, vừa
vào tôi chợt thấy đôi mắt ông rất đỏ dường như có ngấn lệ.
GS nói ông vừa về từ văn pḥng Tư lịnh Nguyễn Khoa Nam, và
nói t́nh thế lâm nguy. (GS Xuân được Tư lịnh NKN tham vấn
một số vấn đề trong những ngày tháng đen tối đó)
Rồi mấy ngày sau, tôi nghe tin GS nhận chức Bộ
trưởng Giáo dục của Nội các Nguyễn Bá Cẩn (vào khoảng 10
tháng tư/1975). Tôi gọi điện thoại cho ông. Tôi hỏi GS liệu
t́nh h́nh quá bi đát GS nghĩ sao ở trong Chánh phủ quá muộn
màng như vậy. GS trả lời “hiện giờ thuyền sắp ch́m, không
thể nói nên hay không nên, mà giờ mọi người phải cùng nhau
tát nước để cứu thuyền khỏi ch́m”. GS Xuân tham gia nội
các Nguyễn Bá Cẩn trong tinh thần và trách nhiệm của một sĩ
phu, trong t́nh thế cực kỳ nguy hiểm.
Nội các Nguyễn Bá Cẩn chưa làm được ǵ, th́ TT
Nguyễn văn Thiệu từ nhiệm, Phó Tổng Thống Trần văn Hương lên
thay. Rồi Quốc Hội biểu quyết cho Tướng Dương văn Minh lên
làm Tổng Thổng để đầu hàng ba ngày sau đó.
Khi lên TT, Tướng Dương văn Minh, thành lập ngay Nội
các mà GS Vũ văn Mẫu là Thủ tướng, và vỏn vẹn trong ba ngày,
Nội các nầy chỉ mới có được ba bốn Tổng trưởng. Cho nên chưa
có sự bàn giao, Nội các Nguyền Bá Cẩn vẫn ở tư thế xử lư,
chờ trao quyền cho Nội các mới. GS vẫn ở trong Nội các NBC
chờ bàn giao, GS Xuân không phải ở trong “Nội các Dương văn
Minh” như bài báo viết sai, thực sự là Nội Các Vũ văn Mẫu. Cái
sai nầy có ư nghĩa trong trường hợp GS Xuân, tai hại danh dự
GS v́ sai lập trường chánh trị của ông
Ông không phải thành viên của “nội các Dương văn
Minh”, ai cũng hiểu Nội các đó là nội các của thành phần thứ
ba, hay một Nội các lót đường, một nội các tay sai của CS.
C̣n Nội các Nguyễn Bá Cẩn được kết hợp nhiều đoàn thể và lực
lượng quốc gia chống cộng. Lập trường GS Xuân là trong lập
trường chung đó.
Trong mấy ngày cuối tháng tư, tôi có lên Sài g̣n,
đến Bộ Giáo dục không gặp GS, tôi gặp anh Huỳnh kim Thoại
(Cao học khóa I), anh vừa được GS Xuân bổ nhiệm Phó Tổng
Thư kư, anh cho tôi biết vợ con GS đă rời VN, GS ở lại, dù
lúc đó việc ra đi dễ dàng với ông. Anh Thoại c̣n cho biết,
GS nhờ anh mua cho ông một món thuốc độc cực mạnh, và một
con dao nhỏ luôn bỏ theo ḿnh. Điều nầy chứng tỏ GS Xuân
thấy được những giờ phút cục kỳ nguy hiểm, ông phải tự hủy
đời ḿnh khi cần. Một điều rơ hơn nữa là GS chắc chắn không
thay đổi lập trường để theo thành phần thứ ba, hay chạy theo
CS vào giời chót v́ lư do nào đó.
Sự cương quyết của GS không phải như lời suy diễn
của bài báo Thanh niên 28-4-2015, có tựa “Giữ huyết
mạch cho Ḥn ngọc Viễn đông, vị Tổng trưởng quyết không rời
quê hương”, khi nói về Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân.
Tôi có nghe trong mấy ngày đầu chiếm Viện Đại học
Cần Thơ, nhóm sinh viên CS ở đây đ̣i đưa GS về Cần Thơ để
“hỏi tội”, bọn nó muốn “trả thù”, v́ vài năm trước đó, có
một số sinh viên CS ở Đại học Cần thơ bị Cảnh sát vùng IV
bắt giam.
GS Xuân cũng như rất nhiều trí thức khác và đa số
học tṛ của ông tại Học viện QGHC bị CS giam giử lâu dài và
trải qua nhiều trại tù. Trong cái sống nghiệt ngă, GS bị
bịnh nặng và qua đời tại trại tù Nam Hà, năm 1986, thọ 61
tuổi. Dù dưới góc nh́n nào, đó là một trong rất nhiều thảm
họa của trí thức VN qua lịch sử nhiều đắng cay. Và hôm nay,
tôi lại xin cầu nguyện hương hồn thầy được b́nh yên ở cơi
vĩnh hằng.
Thứ hai, Vài suy nghĩ về “nỗi đau” của trí thức
miền Nam
Qua câu chuyện thảm thương của GS Tiến sĩ Nguyễn Duy
Xuân. Một trí thức nhiều khả năng, giàu ḷng hy sinh, rất
đạo đức, nhưng cuộc đời ông bị kết thúc cách thảm thương,
chỉ v́ ḷng yêu nước, v́ theo đuổi trách nhiệm của kẻ sĩ. Sự
đối xử của chủ thuưết chánh trị CS không căn cứ trên đạo đức
thông thường và ḷng yêu nước chân chánh.
Về t́nh trạng đau thương và hổn tạp của trí thức miền Nam
qua biến cố 1975
Theo truyền thống văn hóa VN th́ trí thức có vai tṛ quan
trọng bực nhứt trong xă hội, có khả năng và hiểu biết hơn
thường dân và có bổn phận hướng dẫn giáo dục quần chúng.
Nhưng trong chế độ CS, một loại “trí thức mới” không phải
như vậy.
Trước khi CS chiếm miền Nam, tầng lớp trí thức cấp cao cũng
như những chuẩn trí thức (sinh viên), có thể tạm chia làm ba
thành phần: thành phần chống cộng, thành phần thân cộng, và
thành phần không có hay không muốn tỏ ra lập trường và ư
thức chánh trị rơ ràng.
Ở đây, tôi chỉ muốn nói đến thành phần “trí thức thân cộng”,
dù không nhiều nhưng có thể là một điển h́nh của sự đối đầu
ư thức hệ, hay tâm lư chánh trị “thời hậu thực dân” ở VN .
Dù những người trí thức nầy tự ḿnh không hiểu CS hay bị CS
dụ dỗ hoặc lư do nào khác mà hoạt động của họ trở thành có
lợi cho CS, nhứt là trong những tháng ngày của 1975. Hầu hết
họ không phải là CS chánh cống, họ là “công cụ” của CS. Họ ở
rải rác trong nhiều nơi kể cả khu vực tư. Và sau thời gian
sống với CS, họ không thể hội nhập được, không có cơ hội làm
được việc ǵ đáng kể, họ tự nhận sự thất vọng, và tan biến,
và để lại một số bài học đớn đau .
Tôi
xin ghi nhận ra đây một số trường hợp có thể được xếp loại
dưới nhiều h́nh thái:
Loại h́nh thái được CS kết nạp, huấn luyện trước 1975, và
cho vai tṛ quan trọng như GS Nguyễn văn Kiết (GS Văn Khoa),
và Hồ Hữu Nhựt (sinh viên Đại học sư phạm), cả hai vào cục
R. Sau tháng tư 1975 được đưa về Saigon làm Bộ trưởng và Thứ
trưởng Giáo dục của Mặt trận GPMN. Qua năm 1976, VN thống
nhứt, Mặt trận và các viên chức đó biến mất luôn.
Loại h́nh thái có tham vọng chánh trị chạy theo CS với hy
vọng là nhập vào thành phần thứ ba, theo Hiệp định Paris.
Mặt dù có nhiều người họ đang ở trong nhiều bộ phận chánh
quyền quốc gia. Có thể kể các Dân biểu Lư quí Chung, Hồ
ngọc Nhuận, Dương văn Ba, GS Đại học Trần kim Thạch, Lư
chánh Trung, Luật sư Nguyễn Phươc Đại, LS Trần ngọc
Liễng..Sau 1975 các người nầy được cho “đóng góp” làm kiểng,
như chức dân biểu Quốc hội, hay chức vụ tào lao nào đó.
Kết cuộc, họ trải qua những ngày tháng phất phơ, thất vọng,
thất chí, bất măn và tàn phai.
Loại h́nh thái “trở cờ” hay “tự diễn biến” với những lư do
riêng: như Tiến sĩ Nguyễn văn Hảo, nguyên Phó Thủ Tướng VNCH,
ở lại và viết Kế hoạch phát triển kinh tế với tựa “Vận Hội
Mới” dâng cho CS và không đựơc đoái hoài. Tới 1982(?) Tiến
sĩ Hảo trong lần gặp một số anh em trong khối kinh tế tài
chánh của Chánh quyền cũ, ông nói “giă từ VN” và ra ngoại
quốc. Người thứ nh́ tôi có gặp lại khoảng 1982 là cựu Tổng
trưởng Thương mai và Tiếp tế VNCH, ông Nguyễn Văn Diệp, ông
là xếp của tôi. Ông cũng đi tŕnh diện cải tạo, nhưng chỉ
sau 3 tháng ở Long Thành, và được cho về. Có thể v́ ông
Nguyễn văn Diệp thuộc thành phần “thân cộng” hay ít nhứt
không phải loại “trí thức phản động”. Nhưng CS chỉ cho làm
công tác nghiên cứu phát triển kinh tế. Tôi có thăm ông hồi
1982, vợ con ông ở Pháp và sau đó ông chết âm thầm tại VN.
Một trí thức lớn nữa là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, nguyên Phó
Thủ Tướng VNCH, dường như được CS cho đóng góp sau 1975, với
chức Cố vấn ngoại thương, và sau đó được cho mở Văn pḥng
Tư vấn kinh tế .
Loại h́nh thái có công nhiều với “cách mạng” trong nhiều
hoạt động sinh viên trước 1975. Có thể kể một vài người như
Huỳnh Tấn Mẫm, Hoàng phủ ngọc Tường, Nguyễn Hữu Thái, Dương
văn Đầy… CS cho họ một số nhiệm vụ sau 1975. Nhưng không
được trọng dụng và có sự va chạm với trí thức XHCN miền Bắc,
một số lớn sau nầy bất măn và rút lui.
Loại h́nh thái đặc biệt: Một số trí thức hải ngoại không
phải CS nhưng không hiểu CS, qua lời kêu gọi của Chánh quyền
CS, họ “về nước đóng góp xây dựng quê hương” từ một số nước
Pháp, Anh, Nhựt, Úc, Hoa kỳ.. CS tuyên truyền rất nhiều về
kế hoạch nầy. Có một số trí thức phần khởi trở về, và sau
độ 5 năm, tuyệt đa số lại rời VN trong hối hận.
Và c̣n nhiều nữa những “trí thức lầm lẫn” đó lần lượt rời
quê hương hay sống âm thầm trong sự đổi đời, mà chính họ hay
chế độ mới nầy cho rằng không thích hợp. Trí thức XHCN, dù
thế nào cũng tốt hơn đối với đảng, mà trung với đảng là yêu
cầu tuyệt đối.
Về chánh sách và biện pháp của CS đối với trí thức miền Nam
Nói chung, CS không ưa và có phần lo sợ trí thức chân chánh,
mặc dù cần phải có trí thức để phát triển. Chính Lê nin đă
“dạy” cho các đàn em khi nắm được chánh quyền th́ nên sử
dụng lại trí thức của chánh quyền cũ. Trí thức đó là công cụ
cho phát triển. Mặt khác, CS luôn cảnh giác và sợ trí thức
thông thường, v́ trí thức hiểu biết cao và đúng, c̣n CS th́
dốt và độc tài, nhiều sai trái, nhiều khác biệt với đa số
người dân. Cho nên CS chỉ đào tạo, nâng đở, sử dụng trí thức
XHCN.
Trong nguyên tắc đó, những trí thức cũ của miền Nam không có
thế đứng nào cả, kể cả những người có dính dáng hay có cảm
t́nh ủng hộ CS lúc đầu từ nhiều nguồn khác nhau.
Nguyên tắc chung, CS có ba nguyên tắc căn bản vế trí thức:
Trí thức cần cho xây dựng phát triển sau khi nắm quyền,
nhưng chỉ là một công cụ (Lê nin). Trí thức không giá trị ǵ
mà c̣n cản trở cuộc “cách mạng vô sản” (Mao trạch Đông).
Cần cảnh giác với trí thức, nhứt là “trí thức tiểu tư sản”,
v́ họ gần quần chúng và có ảnh hưởng đến quần chúng về nhiều
mặt.
Cần phân biệt “trí thức XHCN” và trí thức chung chung, tính
“hồng“ phải được đặt cao hơn khả năng “chuyên môn”.
Một số chương tŕnh hay biện pháp của CS đối với trí thức
Miền Nam
Trấn an và hứa hẹn với trí thức miền Nam qua “chánh sách
khoan hồng và cải tạo”. Đầu tiên, khi mới chiếm miền Nam, CS
liền trấn an trí thức trong mọi ngành. Chánh quyền mới nói
sẽ dùng lại các viên chức cũ, trừ những người “có tội” với
nhân dân là phải được “cải tạo” thành “con người mới XHCN”,
biến cải thành con người mới khác với con người cũ, xây dựng
cho họ có t́nh cảm đúng là “yêu nước là phải yêu XHCN”.
Khoan hồng có nghĩa là không giết .
Đề pḥng và trấn áp trí thức. Song song với chương tŕnh
trên, CS thực hiện biện pháp trấn át và theo dơi trí thức,
nhứt là trong các đảng phái chánh trị chống cộng, trong các
tôn giáo. Vụ nổi dậy của nhà thờ Vinh Sơn, làm CS càng siết
chặt hơn. Một số trí thức “bị bắt nguội”. Một số trí thức
hoạt động sau 1975, bị CS bắt và bị kết án rất nặng, tôi có
biết trong số đó có GS Đoàn viết Hoạt, GS cựu Viện trưởng
QGHC Vũ quốc Thông, GS Đào quang Huy (Học Viện QGHC),...
Chiêu dụ trí thức trong nước và hải ngoại. V́ gần như tất cả
trí thức miền Nam, trí thức cao cũng như những người tốt
nghiệp đại học, đều lần lượt vượt biên trốn khỏi quê hương.
Có lúc CS chơi “chiêu dụ dỗ”, một số trí thức có tài năng,
vượt biện bị bắt và được thả ngay (vào khoảng 1980). Trong
số có những người tôi có dịp gặp sau 1982, và họ cũng đi qua
Pháp cách chánh thức như : Tiến sĩ Trần an Nhàn , Kỹ sư
Dương kích Nhưỡng, GS Nguyễn văn Tương.
Chánh sách “Ḥa hợp ḥa giải Dân tộc, HGHH”. vào khoảng
những năm thập niên 1980, t́nh h́nh quốc tế có biến đổi.
Trong nước kinh tế bị kiệt quệ, CS thay đổi chách sách kinh
tế, cần sự hổ trợ từ ngoài. CSVN đưa ra chiêu bài “Ḥa hợp
Ḥa giải Dân tộc”, kêu gọi mọi người quên đi hận thù, đoàn
kết mọi người Việt trong và ngoài nước .
HGHH trên nguyên tắc, có hai bước và hai cách thực thi. “Ḥa
giải”, trước hết là giải tỏa các mâu thuẩn lớn, sự khác biệt
lớn giữa hai bên, thứ nh́ là cả hai bên phải phải tự loại bỏ
sự khác biệt lớn, để cuối cùng hai bên có thể chấp nhận được
trong tinh thần đặt quyền lợi đất nước trên hết. Thứ nh́, sự
thỏa hiệp phải không có sự cưỡng bách. Nhưng trên thực tế,
CS vẫn đi con đường cố hữu, cũng cố quyền lực, độc tài toàn
trị, bằng bạo lực, bằng gian trá, lừa dối, ngăn cách người
dân, bằng cưỡng đoạt tài sản quốc dân. Thực tế, gần như ai
cũng biết, cách cai trị và hành xử với dân của CS, từ 1975
cho tới nay, cơ bản không thay đổi. CS chỉ muốn “ḥa giải”
theo cách của họ.
Bước thứ hai là “ḥa hợp” cũng không khả thi, v́ không qua
bước thứ nhứt “ḥa giải” được th́ làm sao đến “ḥa hợp”.
Chánh sách HGHH cho quyền lợi dân tộc, chỉ có trong tuyên
truyền, hay chỉ thực hiện được từ một số ít người v́ quyền
lợi cá nhân.
Mặt khác, nếu nghĩ con đường Ḥa giải Ḥa hợp từ yếu tố quốc
tế của chiến tranh VN, th́ rất phức tạp và gần như xa vời.
V́ căn nguyên và sự giải quyết chiến tranh VN, tự nó là sự
pha trộn một loại chiến tranh quốc nội cộng với chiến tranh
quốc tế.
Kế hoạch HGHH của CS đă thất bại.
Hơn bất cứ dân tộc nào khác, người Việt bất cứ thuộc thành
phần nào, đều mong ước có một ngày Ḥa giải Ḥa hợp thực sự
trong một t́nh huống khác, với điều kiện khác, cách thức
khác hiện nay.
Trong nhiều giới hạn của cá nhân, tôi đă góp một số ư kiến,
đúng hơn là một cảm nghĩ ư của một vấn đề. Mà sự suy nghĩ
của tôi chánh yếu là xuất phát từ cái “đạo nghĩa”. Thêm một
chút là quần chúng bao giờ, và trong hoàn cảnh nào, cũng
mong chờ và tin tưởng ở những trí thức chân chính.
Cali 22 tháng tư,
2023
Nguyễn Bá Lộc
|