Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Những Gịng Sông 

     Mùa hè năm 1954 phượng nở đỏ rực trên thành phố Huế. Đại lộ Trần hưng Đạo thời ấy c̣n ngăn hai chiều bằng bậc thềm trồng phượng ở giữa. Phượng đă sớm đi vào thi ca là hoa của học tṛ, của lứa tuổi đôi mươi trao nhau lời giả từ qua câu văn, ư thơ nhắc nhở người bạn, người t́nh chớ quên nhau qua ba tháng hè ngắn ngủi. Với người lớn phượng cũng làm xao xuyến không ít những tấm ḷng vẩn mải gắn bó với quê hương, qua truyền thống dài lâu, sôi nổi, nhiệt t́nh...
     Phượng đă nở đỏ ối năm ấy, làm sậm ḷng người dân cố đô cơ hàn âu lo cho vận mệnh đất nước với những biến chuyển dồn dập của thời cuộc. Tuân ở tuổi mười một cũng đă nhận biết và chia xẻ những ưu tư đó của người lớn. Qua những câu chuyện thầm th́ bàn tán chung quanh, em biết sẽ có một chuyện ǵ quan trọng lắm sắp xảy ra. Những ngày nghỉ học em thường lặng lẻ tạt qua phố thăm chừng động tỉnh. Hàng phố vẩn mở cửa, nhưng ít người mua bán. Rạp xi nê Tân Tân không có người sắp hàng dài chờ xuất như lệ thường những ngày cuối tuần. Tiệm dancing sang trọng mặt tiền cẩn những ô gạch men xanh màu bích ngọc vắng hẳn bóng những ông tây bà đầm. Bác Hai của Tuân từ lâu cũng không lui tới đó nửa. Một cái ǵ chờ đợi đến sốt ruột, bồn chồn, vội vả. Nơi góc cầu Tràng tiền, hai chiếc xe ṿi rồng của sở cảnh sát nằm chờ, quan sát những động tỉnh của thời cuộc...
     Hiệp định Genève kư kết. Ba nói đất nước chia hai ở vỉ tuyến 17, lấy sông Bến Hải làm biên giới. Không bao lâu nửa sẽ diển ra những trao đổi, di cư, hồi kết giữa hai miền. Biết tính Tuân ṭ ṃ, nhạy ứng với những biến chuyển, Ba cấm em ra phố những ngày này. Thời cuộc nhiểu loạn đă đánh mất tuổi thơ của các bé con, làm chúng sớm già. Nhất là giới học sinh, chưa lên mười đă bị lợi dụng làm công cụ chính trị. Hoan hô phe này, đả đảo cánh kia. Tội nghiệp chúng nào có biết ǵ đâu. Gia cảnh giàu nghèo mặc kệ, mổi học sinh tiểu và trung học phải có ít nhất một bộ đồng phục sơ mi trắng quần sọt xanh. Tuân đă mặc chúng đến sờn rách. Để hoan hô Phan văn Giáo. Để chào đón tân thủ hiến Trung kỳ Trần văn Lư... Chúng lại được giặt giủ kỷ lưởng cất vào rương, ướp long nảo chờ dịp xuống đồng An cựu, dăng hàng trên lộ số 1 để tung hô Thống soái De Lattre de Tassigny đáp phi cơ từ Phú Bài lên thăm Huế. Hoặc hàng ngủ chỉnh tề trước cửa Thượng tứ đường vào đại nội đón Đức quốc trưởng Bảo Đại từ bên Tây trở lại cố đô leo lên lầu Ngọ môn để chỉ nhắc lại một câu tuyên bố để đời "thà làm dân một nước độc lập c̣n hơn làm vua một nước nô lệ".
    
Chính trị cũng nhờ thế dần rỏ nét trong đầu óc non nớt của em. Và nếu không có những tờ Đời mới, Trung Bắc chủ nhật mà anh hai vẩn dành tiền quà mua đọc đều đặn, và Tuân được đọc ké, th́ chính trị đối với em chắc hẳn vẩn chỉ là bộ đồng phục hoan hô đả đảo cất trong rương và cây cờ vàng ba sọc đỏ in trên giấy mà em cẩn thận cuộn lại cắm trên rui nhà, sợ chuột gặm...Tuân đă hiểu được một phần t́nh h́nh đất nước qua báo chí đọc lén của anh hai để biết được diển tiến của hội nghị Genève, biết được ngoại trưởng Mỹ,  ngoại trưởng Nga,...biết được Chu ân Lai vẩn được mệnh danh là con người bí mật, biết thủ tướng Pháp Mendes France vẩn thấp thỏm chờ đợi kết quả trận thư hùng Điện Biên Phủ...Em cũng hiểu thêm được một phần địa lư đất nước ở ḷng chảo trứ danh này, với Mường Thanh có phi trường chiến thuật dành cho tiếp liệu đă bị pháo của tướng Vơ nguyên Giáp từ trên những đỉnh núi cao mà trí tưởng b́nh thường của con người cho là không thể nào đem lên nổi, đánh gục. Em cũng được biết thêm tên của những danh tướng Việt minh với các trận đánh dử dội ở các cứ điểm Huguette, Eliane, Monique...trong kế hoạch táo bạo của tướng Navarre dụ lực lượng Việt minh tập trung vào khu ḷng chảo để sẽ dùng những oanh tạc cơ Bircats cất cánh từ phi trường Hà đông lên tiêu diệt. ..Nhưng ông tướng đă lầm v́ chủ quan, đúng hơn ông không thể nào hiểu được sức chịu đựng khiếp đảm và ḷng ái quốc cao độ của con người Việt nam đă có thể làm được những chuyện kỳ tích dưới kỷ luật thép và kỷ thuật tâm lư chiến già dặn của những cán bộ Việt minh. Do đó mà phi trường tiếp liệu Mường Thanh của ông đă bị pháo dập cắt đứt từ những giờ phút đầu của cuộc tổng tấn công và các đoàn phi cơ tiếp tế bằng dù và phóng pháo cơ đă bị pháo cao xạ bố trí trên những đỉnh núi cao chung quanh ḷng chảo Điện Biên Phủ chế ngự...
     Đại tá De Castries vừa tự ḿnh gắn chiếc sao bạc thả dù may mắn  lọt được vào pḥng tuyến để bước lên cấp tướng th́ pḥng chỉ huy của ông cũng  bị tràn ngập. Khuôn mặt ông rủ xuống, ngoan ngoản theo những người thắng trận bước ra cam phận tù binh. H́nh ảnh chiếc sao lóng lánh mới toanh trên cổ áo soi một khuôn mật ủ dột, thê thảm cứ làm em xao xuyến ngậm ngùi cho những vinh nhục của đời người. Những em bé Việt nam thừa hưởng hơi hướm vinh quang Điện Biên Phủ c̣n cả một tương lai đời người bất định trước mặt; và viên tướng Pháp bại trận cuối đời binh nghiệp ai đáng tội nghiệp hơn ai? V́ cuộc đời một con người gắn chặt vào thân phận một đất nước mà những thăng trầm của chính nó sẽ định đoạt những hạnh phúc hoặc tang thương. Việt minh đă chiến thắng trên chiến trường Điện biên phủ, nhưng không có được những tiếng nói quyết định cho tương lai đất nước dân tộc trên bàn hội nghị Genève. Mọi vấn đề đă có những đại diện đàn anh của phong trào quốc tế vô sản Nga sô viết và Cộng ḥa nhân dân Trung hoa giải quyết hộ. Một nửa đất nước ở bên này và bên kia vỉ tuyến 17 sông Bến Hải là một qua phân đoạn trường đối với dân tộc Việt; nhưng với người cộng sản Việt nam, nửa miền bắc chiếm được đă là một thắng lợi đầu cầu làm bàn đạp củng cố tích trử khí tài, chuẩn bị lực lượng thôn tính nốt miền Nam. Chỉ tội nghiệp cho những người dân lành bị xử dụng làm công cụ chiến tranh, dưới bạo lực dối trá của tuyên truyền và cuộc chiến tranh tương tàn nhân danh giai cấp và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tội nghiệp cho em bé Tuân của chúng ta đă bắt đầu cuộc đời ḿnh với những thấc mắc và những hiểu biết quá sớm về qua phân, về chiến tranh, về ư thức hệ, những điều của thế giới người lớn đáng ra em không nên biết. Em bé Tuân khốn khổ của chúng ta đă bắt đầu cuộc đời khốn khổ như vậy.
     Tuân khao khát ḥa b́nh. Em đếm từng ngày chờ đến ngưng chiến. Sau khi kư kết hiệp định, những trận đánh vẩn c̣n tiếp diển, ngày càng về gần thành phố hơn. Cho đến nửa đêm rạng sáng ngày 20 tháng 7 là thời hiệu thi hành hiệp định súng vẩn nổ rền. Sáng ra anh Phận hàng xóm từ đồn An cựu trở về mặt mày tái mét, hớt hải. Nhưng may mắn anh vẩn c̣n sống, trong lúc bạn bè đồng đội anh đă tức tưởi hy sinh vô lư trong giờ phút cuối cùng trước khi hiệu lực ngưng bắn bắt đầu.
     Những ngày sau đó, thành phố rỉ tai nhau tin đồn đạo quân chiến thắng sẽ diểu binh qua thành phố Huế trước khi hồi kết ra bắc. Dân chúng tụ tập ngày càng nhiều trên các hè phố chờ xem, một phần để tung hô biểu t́nh yêu sách thả tù, trả chồng con; Nhưng theo Tuân phần lớn v́ hiếu kỳ. Tuân củng ở trong số đó. Em chạy trối chết v́ lựu đạn cay, ướt như chuột lột v́ những ṿi rồng của hai xe cứu hỏa giải tán đám biểu t́nh...
     Nhưng đoàn quân ma không bao giờ diểu hành qua thành phố. Chúng đă được ră ngủ có kế hoạch, lẩn vào quần chúng, chờ thời chuẩn bị tái phát chiến tranh...Ôi một dân tộc cứ bị đẩy vào lửa đỏ, khát bỏng t́m một lối ra. Một dân tộc đă vinh hạnh giành được độc lập với súng đạn nhản Nga, gạo Đại mể, lương khô, quân nhu, quân dụng và các loại khí tài Trung quốc, cùng chiến lược của các quan thầy ẩn mặt. Chỉ có thân xác là của những người lính Việt minh khắc phục muổi đói, rừng thiêng nước độc, lấy thân ḿnh chặn đà tuột của đại pháo, lấy đầu bít lổ châu mai như huyền thoại mù ḷa vẩn thường ca tụng. Để cho một dân tộc cứ phải dấn sâu vào hận thù, để cho lương tri của một thế hệ sau lưng sẽ lớn lên  mù mịt một ḷng yêu nước quá khích, và những giả dối cứ vẫn tin là chân ly, vẫn tự nghi ngờ lấy chính ḿnh mà chẳng dám nói. V́ luật chơi của một tập thể bạo tàn gọi là đảng của chuyên chính vô sản. V́ một lừa bịp tồi tệ mà lớn lao của cái gọi là chũ nghĩa xả hội vinh quang.
     Tuân đă trang trải những ngang trái ấy của lịch sử bằng chính đời ḿnh. Khi hai mươi mốt năm sau kể từ cái năm 54 nhiều biến cố đó anh đă phải cúi đầu đi vào trại cải tạo. Cũng như chị Hỉ, người chị họ và là chị của Thượng úy Song, chỉ huy xă đội du kích nơi làng ngoại đă phải làm đám cưới vội vả với một chính trị viên chỉ một ngày trước khi tiểu đoàn hồi kết ra Bắc; và cứ phải chờ mải người chồng  đảng viên chưa nhận rỏ mặt cho đến nhiều năm sau vẩn bật vô âm tín.
     Cuộc chiến thần thánh giành độc lập dân tộc không phải là công lao riêng của những người Marxiste - Léniniste. Ngọn cờ Việt minh thấm máu tổ quốc rút cục lại là một cuộc lừa bịp lịch sử. Những người yêu nước không chấp nhận tính lảnh đạo của giai cấp, đă bị phân biệt, bắt qú gối, bị điểm mặt như kẻ thù. Ư hệ chủ nghĩa đă dựng giới tuyến và hận thù, chia rẻ anh em bạn bè từ huyền thoại lịch sử lập quốc vẩn gọi nhau là đồng bào. Bọc hồng Âu cơ khởi nguồn sự kết đoàn liên tục của núi cao và biển sâu, dựng t́nh tự con người ước mơ cuộc sống b́nh dị, chan ḥa với láng giềng, xóm làng và nơi chôn nhau cắt rốn. Một dân tộc đă chịu nhiều đau thương trong chiều dài lịch sử vẩn chỉ muốn yêu thương nhau. Chưa bao giờ họ được dạy hận thù giữa tầng lớp này và tầng lớp khác trong cùng một xă hội. Ư niệm giai cấp vẩn măi măi xa lạ, không thành nghĩa được trong tiếng nói, trong tŕnh tự dân tộc. Chưa bao giờ họ nghi ngờ những thành viên của gia đ́nh vẩn có thói quen ăn chung một mâm, ngủ chung một chiếu, hàng xóm láng giềng vẫn vui chung cùng trong một hội tết, ghé vai cùng chia xẻ chung một việc làng.Và mái đ́nh màu ngói đỏ thẩm phải chăng vẩn là niềm gắn bó keo sơn  của nhiều thế hệ? Giữa những truyền thống dân tộc ư niệm giai cấp và hận thù không có chổ đứng. Lịch sử đă chứng tỏ tính ngoại lai đó của gịng tư tưởng Marx-Lnine trong suy nghĩ thuần hậu của người Việt nam chính thống phải được đào thải.

* * *

     Trong cái không khí ngột ngạt đang âm ỉ những chuyển biến lớn của lịch sử  mà Tuân đă kết thúc khá tốt đẹp bậc tiểu học. V́ thời cuộc sôi động, khóa thi năm ấy đă không tổ chức được hoàn hảo. Việc giám thị lỏng lẻo, an ninh hờ hửng. Thân nhân thí sinh bao quanh các trường thi, trèo lên cả những bức tường nhấc bài loạn xạ.Tuy có phần khó khăn với môn toán không được giỏi lắm, Tuân qua được kỳ thi viết dể dàng. Đến oral, hát hoặc đọc thơ mà học sinh ngày ấy quen gọi là "môn học thuộc ḷng " Tuân gặp phải bất ngờ. Biết ḿnh có giọng hát không được hay Tuân đă chuẩn bị kỷ lưởng bài thơ "hổ nhớ rừng" của Thế Lử mà em rất thích. Thế nhưng khi được gọi tên lên bảng đen thầy giáo chấm thi lại cười dịu dàng hỏi :"Em Tuân có biết hát không?" Tuân ngớ ra, lư nhí:"Dạ ,em cũng biết chút đỉnh nhưng...không bằng đọc thơ...học thuộc ḷng...". Thầy cười :" Cái đó là quyền của em ...Nhưng tự nảy giờ như em thấy đó, tất cả thí sinh đều chọn thơ. Tự nhiên thầy muốn nghe một giọng hát. Nếu em chịu chắc chắn thầy sẻ dành điểm ưu tiên...". Đầu óc em xoay chuyển nhanh kiếm một bài hát thuộc từ đầu đến cuối. Em thu hết can đảm nói " Dạ, em sẽ hát bài "làng tôi của Chung Quân". Nh́n khuôn mặt hài ḷng của thầy giám khảo, em quên hẳn sợ sệt âu lo, nín hơi thở tập trung bắt đúng giọng, rất thoải mái."làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh...". H́nh ảnh cây cừa bên đ́nh làng bổng biến thành một cây đa cổ thụ có vô số loài chim đến xây tổ nương náu; nơi đó Bông và Tuân vẩn ŕnh những lúc ông bác Khải, từ giữ đ́nh làng không có mặt là tấn công chớp nhoáng, bắt các chú chim con. Tàng lá của nó cao rợp một khoảng lớn sân đ́nh những ngày hè oi ả cho bàn dân trong xóm ghé qua kiếm chút gió mát. Hoặc những chiếc rể phụ to như những bện dây thừng rắn chắc Tuân vẩn đùa nghịch cùng bè bạn đu theo kiểu Tarzan...Làng tôi...có con sông lơ lửng vờn quanh... Ôi gịng sông vẩn là gịng sông quê hương thơ ấu. Tuân thả hồn ḿnh xuôi theo những mái chèo chở nặng những câu ḥ ân t́nh mái nh́ mái đẩy...Bài hát kết thúc trong cơn mơ say đắm của Tuân về làng xóm quê hương. Thầy giám khảo gật đầu :"tốt...tốt...em hát có hồn lấm.Cám ơn em..". Tuân ra khỏi pḥng thi phấn khích như được uống một bát nước chè xanh giữa trưa hè nóng bức mà cây đa  đ́nh làng vừa cho em chất liệu thành công với bài hát.
     Môn thi tiếp theo là họa. May mắn lại đến với em lần nửa trong cùng một đề tài em yêu thích :"Hăy vẻ ngôi làng em ở...". Thôi trúng tủ rồi, ngôi làng với "bao mái tranh san sát kề nhau, nắng ru êm trên mấy hàng cau...đồng quê mơ màng..." vừa diển tả qua bài hát thoáng hiện trở lại trong đầu Tuân, ngập nắng vàng trên con đường "cái quan" dẩn về quê ngoại. Bố cục bức tranh hiện ra trong viển cảnh một cánh đồng bát ngát thoảng đưa hương lúa vừa chín tới. Mái đ́nh màu ngói đỏ thẩm chiếm một vị trí trang trọng nhất, nổi cao hẩn giữa lủy tre xanh vẩn biểu tượng cho trung tâm của đời sống xă thôn liên kết chặc chẻ với nhau bởi truyền thống đặc thù lâu đời. Và h́nh bóng cây đa cổ  in bóng bên lạch nước uốn quanh cổng làng là một h́nh ảnh của bài thơ mộc mạc nhưng đậm nét quê hương, với bà mẹ già bán nước chè xanh cho những khách bộ hành tạm nghỉ chân trên dường dài xuôi ngược từ các làng Hương cần, An thuận, Triều sơn tây về "dinh" hoặc Bao vinh- phố chợ. Về phía tây, dăy Trường sơn in nền cho những ngọn núi Chầm, núi Xanh, núi Kim phụng nổi rỏ lên nền trời xanh những dáng vẻ riêng. Ruộng đồng trải êm thắm về phía Triều sơn đông, Thủy tú đến tận những cồn cát vàng  đầm Thuận An óng ánh mặt trời hè luôn mời gọi ḷng Tuân đến với những ngọn gió biển trong lành gợn bóng những chiếc ghe chài của ngư dân các làng Thái dương ra khơi trong ánh b́nh minh đỏ ối...Chỉ mươi phút ngập h́nh ảnh sống động như in là bức họa đồng quê của Tuân chấm dứt hoàn hảo, ưng ư.

* * *

     Trải qua một mùa hè nô đùa thỏa thích sau kỳ thi tiểu học, gần kề ngày tựu trường Tuân mới ghé qua nhà cậu Hoan rủ đi mua sắm chút bút nghiêng cho năm đầu bậc trung học. Cậu Hoan là em họ của mẹ nhưng v́ "ông quản" thân sinh ra cậu là em út của ngoại nên cậu sinh muộn, cũng chỉ tuổi Tuân. Hai cậu cháu cùng trường, cùng lớp hầu như lúc nào cũng sát cánh bên nhau. Nhà cậu ở gần cầu Đông ba trên đường Tuân đi học nên thỉnh thoảng mẹ dặn ghé thăm bà và d́ Hồng. Ông Quản vốn là một trong những người đầu tiên của đất cố đô chuyển sang Tây học, đổ được bằng "thành chung".Ông gia nhập quân đội Pháp đóng lon quản, phụ tá cho sĩ quan  tây chỉ huy quân đội bản xứ cấp Tỉnh. Cách mạng 45 nổ ra, Việt minh lùng bắt ông đưa ra bắc quản thúc. Ông chuyển nghề làm thầy giáo dạy tiếng Pháp. Người con trai lớn theo tiếng gọi cách mạng, tái ngộ với ông ở ngoài ấy. D́ Hồng và cậu Hoan quyết định ở lại hôm sớm với mẹ già.
     D́ Hồng hé mở chiếc cửa "bàng khoa" nặng trịch cho Tuân lách vào rồi khép vội lại, kéo Tuân vào nhà sau. Đi ngang qua pḥng bà, Tuân dừng lại chào nhưng bà không nghe thấy. Bà Quản già đi nhiều lắm, mái tóc bạc phơ. Bà nh́n Tuân, nhưng h́nh như không nhận ra  vẩn ngồi bất động trên chiếc sập gụ, đôi mất xa xăm.Tuân chào bà thêm một lần nửa nhưng bà vẩn không trả lời, chẳng chuyển động. Tuân đâm hoảng chẳng biết bà bị bệnh ǵ không th́ ǵ Hồng nắm tay Tuân nói nhỏ: "Từ khi cậu Hoan đi, bệnh "sửng"(-một loại bệnh mất trí nhớ -tác giả) của bà càng nặng thêm". Tuân giật ḿnh như con chim sợ tên :"D́ nói sao? Cậu Hoan đi xa?".D́ từ tốn cầm tay, nh́n thẳng vào mắt Tuân:"Cháu là chổ trong nhà d́ mới nói thật. Cậu Hoan theo ông ra Bắc học. Cháu kín miệng đừng nói với ai nhé, nhất là bạn học. Lúc này t́nh h́nh chưa yên, nguy hiểm lắm." Tuân nén đau, gật đầu vâng dạ rồi từ giả d́. Trên đường về ḷng em rối bời. Bông đi rồi đến cậu Hoan. Hai người bạn thân cùng trang lứa đă chia xẻ từng ngọt bùi trẻ thơ bây giờ mổi người đi về một hướng đời. Xă hội nào sẽ là lư tưởng chọn lựa cho những mầm sống đầy nhựa lớn lên? Tuân chưa đủ khả năng phán xét và trí khôn chín chắn để làm một sự so sánh rơ ràng, nghiêm chỉnh. Cho nên em cứ thắc mắc, tự hỏi. Ba th́ nghiêm quá Tuân không giám đặt vấn đề. Mẹ không hiểu nhiều về các vấn đề chính trị thời sự, dù có muốn cũng không giải đáp cho ổn. Anh hai th́ xa cách, vả lại anh vẩn coi Tuân như một loại trẻ nít ṭ ṃ. Mở miệng ra là anh gạt : "Em c̣n nhỏ, chỉ lo học, không được thắc mắc ǵ những chuyện ấy"...Nói vậy chứ anh cũng ưu tư lắm với thời cuộc. H́nh như anh chẳng tha thiết việc học hành nửa. Anh ngấu nghiến đọc những tin tức thời sự, và một đôi lần hiếm hoi có bạn bè đến thăm, anh tranh cải rất hăng về tương lai đất nước. Sau đó anh ngồi thừ người, cô độc. Chỉ có anh Phận hàng xóm là thích bày tỏ với Tuân quan điểm chống cọng của anh. Anh nói khối người theo kháng chiến đă nhận ra ḿnh lầm đường trốn về thành. Không nói ra nhưng Tuân biết anh chờ đợi trong vô vọng ngày trở về thành của anh Dưởng là người anh trai lớn khả kính. Anh Phận thường nói về trí thông minh và tài năng của người anh trai mà anh hết ḷng kính phục. Trong thâm sâu anh thừa biết người anh với tương lai hứa hẹn đó đă dấn sâu vào guồng máy, đă được gởi đi đào tạo tại Liên sô...
     Cho đến một ngày, một người đàn bà cao dong dỏng, bồng trên tay một đứa con c̣n đỏ hỏn, dắt đứa con lớn lên ba hỏi nhà anh Phận. Anh mếu máo:"Chị Dưỡng"
    
Chị gốc người Đông Hà, theo kháng chiến làm y tá bộ đội cùng đơn vị mà anh là Bác sĩ trưởng. Sau hiệp định, gia đ́nh chị là điền chủ nhắn chị "về quê ". Hai vợ chồng tranh cải nhau nhiều, cho đến đêm cuối cùng anh mới chịu nhượng bộ để chị đem con trốn về Nam. Thăm nhà xong chị đem các cháu về bên nội ở Huế, yên lành hơn và có nhiều cơ hội hơn cho chị kiếm việc làm nuôi con ăn học. Ngoài sắc đẹp mặn mà, chị c̣n lanh lợi tháo vát nên sớm t́m được một chân y tá trong quân y viện Mang cá. Chị mến Tuân v́ Tuân thành thật thương các con chị, nên trong nhiều dịp nói chuyện tâm t́nh, chị đă giải tỏa được cho Tuân rất nhiều hiểu biết bổ ích về thực chất của cuộc kháng chiến giành độc lập, và những ư đồ che dấu của bộ phận lảnh đạo miền bắc.
     Đă có những ngày mùa Đông u tối của xứ Huế mưa phùn, Tuân thấy dáng chị Dưỡng buồn xa xăm bên chiếc liếp cửa hông nhà anh Phận, phóng một cái nh́n mông lung vào bầu trời quạnh hiu. Tuân cảm nhận được hoài niệm của chị Dưỡng về quá khứ, về quê hương ngoài đó, về t́nh yêu. Về người chồng kẹt lai trong một guồng máy mà chị biết rất tàn nhẩn, khắc nghiệt, khó bề vượt thoát. Tuân bùi ngùi nghe tiếng hát rất ngọt của chị:

       «Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói

        có những cánh đồng cát dài

        có luỷ tre c̣m tả tơi..."

     Ở đó có người mẹ khắc khoải:

      Mẹ già cuốc đất trồng khoai

       nuôi con đánh giặc đêm ngày…

     Rồi tiếng hát ṿng trở lại một thời quá khứ có những kỷ niệm của hai người. Giọng hát vút cao:

    " Bao giờ anh lấy được đồn tây hởi anh

      Để cho....

      Bao giờ anh........Bao giờ anh......???

     Câu hỏi đó không có lời giải đáp. Ḥa b́nh không trở lại trên xứ sở của những lứa đôi xa cách nhau chờ đợi ngày tổng tuyển cử để tái hợp. Ḥa b́nh chẳng bao giờ đến, v́ đă có một gịng sông giới tuyến đào sâu thêm những cách ngăn giữa hai chế độ ngày càng đối nghịch.
     Trong tâm khảm của mổi con người Việt nam ai cũng mang theo ḿnh h́nh ảnh một gịng sông thân yêu chuyên chở những kỷ niệm ngàn đời không quên được. Gịng chảy có thể thật đẹp, thật hùng vỉ mà bất trắc như Hồng hà bí hiểm. Hoặc b́nh dị, khoảng khoát, ḷng chở nặng phù sa như Cửu long giang với những cánh tay nối dài sông Tiền, sông Hậu; mộc mạc câu hát Vàm cỏ đông, Vàm cỏ tây. Gịng sông cũng có chổ nông chổ cạn như các sông Ba, sông Côn ở miền Trung. Hoặc thâm trầm như gịng Thu bồn đất Quảng. Thơ như một gịng Hương lượn dưới chân những núi non hùng vỉ và kinh thành tráng lệ. Và dù bé như một nhánh sông đào, gịng Đông ba vẩn luôn nhắn gởi, gắn bó với Tuân cả một thời thơ ấu... Mổi gịng sông chuyên chở ngàn ân t́nh cho những người uống nước của nó. Ở mọi góc trời, nơi những khung cảnh khác biệt của đời sống muôn màu muôn vẻ những gịng sông đều có chung cùng nét đẹp và những dịu dàng của  quê hương, những kỷ niệm yêu dấu của quê nhà.
     Gịng Bến Hải lại khác, v́ lở mang thân phận con sông giới tuyến. Nó cắt đôi hơi thở liền lạc làm hai mảnh đời quê hương ở chiếc eo thắt của một đất nước gầy ốm, nhiều truân chuyên. Đời sống ngắn ngủi chỉ bốn, năm mươi cây số gịng chảy lảng quên trườn qua một vùng đất chết, đôi bờ không có cuộc sống , mà chỉ đậm hận thù. Gịng sông cũng chẳng hề chuyên chở những con đ̣ xuôi ngược, và tiếng hát câu ḥ. Nước của nó từ lâu chưa từng gội rửa đời sống, và những bàn tay lao nhọc lấm bùn, những bàn chân  lao động cơ cực dẩm lên cuộc sống. Mặt sông trơ lạnh những đêm trăng thiếu tiếng cười đùa của những cô thôn nử tắm đêm...
     Đă nhiều lần trong tuổi lớn, Tuân đứng lặng lẻ ngắm gịng sông của ḿnh mà phẩn hận nhớ đến gịng Bến Hải, chạnh nghĩ đến con Bông, cậu Hoan, những anh Dưỡng anh Ngọ  ngoài đất bắc xa xôi. Và ở đây trong miền Nam, ngót cả triệu người di cư đă bỏ lại tất cả ở miền đất cha ông ngập hận thù mà lập lại cơ nghiệp. Lịch sử luôn có những khúc quanh nghiệt ngă. Dân tộc luôn có những định mệnh khốc liệt. Đất nước th́ có những thăng trầm biến diển. Nhưng dùng một gịng sông vô tội làm giới tuyến, với đầu óc ngây thơ của Tuân vẩn là một di hận tai ác trong t́nh tự dân tộc.
     Người ta nói vết chia cắt đó chỉ tạm thời, chờ hiệp thương hai năm sau mà liền lại. Nhưng t́nh h́nh chính trị mới đă chuyển nhanh qua những khúc quanh khác, đến nổi chẳng ai trong hai píaá muốn nghĩ đến một ngày phải lấp gịng sông chia cắt. Âu cũng là định mệnh. Những người di cư, hồi kết biết rơ thân phận gịng sông cũng là thân phận của chính ḿnh, v́ ngày hiệp thương trông đợi không bao giờ đến nữa. Chị Dưỡng cũng từ lâu cắt gọn mái tóc kẹp đuôi chuột  sau lưng, thay mốt tóc uốn quăn. Chiếc áo va rơ kiểu đàn ông thuở hàn vi bên kia sông Bến Hải đă được cất kín vào ḥm rương quá khứ, thay bằng chiếc ba đờ xuy đi mưa kiểu tây. Chị cũng không c̣n hát những câu ước hẹn ...bao giờ...bao giờ nửa. Chị biết rơ cỏi ḷng chị đă khép lại với gịng sông định mệnh chia hẳn hai cuộc đời lứa đôi, đă khước từ hẳn hạnh phúc tái hợp với người chồng lựa chọn ở lại với hàng ngủ. Chị biết rằng nơi quê chồng ở đầu phương nam này chị phải làm lại một cuộc đời mới. Quê hương khói lửa tắt dần khói xám u ám ch́m xuống đáy ḷng cho những rạo rực mới ươm lên những khúc t́nh ca. Môi chị đă thoáng thấy nụ cười. Và những ngày cuối tuần Tuân nh́n thấy chị ngồi bên liếp cửa vá ráp, đan áo cho con mà đôi mắt sầu mộng vẩn cố phóng ra khỏi khung cửa tù túng mơ một bóng ai trên đường vắng..."Anh đến thăm em một chiều mưa...Anh đến thăm em một chiều đông...". Một đôi lần Tuân đă bắt gặp một thanh niên c̣n trẻ, trẻ hơn cả anh Phận em chồng chị, vụng về chờ đợi đưa đón chị ở bến đ́nh Thế lại, qua đ̣ Mang cá... Tuân bổng thấy tội nghiệp cho anh Dưỡng trong t́nh yêu ngây thơ chất phát của một đứa trẻ đă mến yêu người thanh niên láng giềng ưu tú nghe nói mà chưa hề biết mặt. Anh đă ra đi theo tiếng gọi, đă hy sinh nổi nhớ và niềm tiếc nuối hạnh phúc với người vợ trẻ xinh đẹp tràn trề nhựa sống. Nhưng Tuân cũng rất có lư để mừng cho chị Dưỡng đă bước qua được nổi đợi chờ vô vọng. Sự tái hợp đă vô phương v́ gịng sông Bến Hải đă chính thức chia hẳn hai bờ vỉnh viển hai bên gịng chảy của nó rồi.
     Hết mùa đông năm ấy chị Dưỡng đem con ra riêng. Ông bà Lợi lại buồn thêm cho đứa con trai yêu dấu  kẹt lại ngoài đất bắc xa hút, nay lại mất thêm cuộc đời tư riêng. Nhưng không thể nào ngăn cản được một điều hợp lư cho con dâu c̣n trẻ đẹp bước đi bước nữa. Vắng thằng Hùng, thằng Dũng căn nhà lạnh tanh. Anh Phận làm đầu tắt mặt tối ít về nhà. Bà Lợi mắc bệnh lao phổi nặng ốm yếu xanh xao. Ông Lợi bị bệnh tê thấp đi đứng rất khó khăn. Thương nhớ con , ngày ngày ông xoay trần bắt ghế ngồi nh́n trời. Riết rồi thành một thói quen. Ông cứ ngồi giữa nắng mắt mở trừng nh́n mặt trời mà ḍ hỏi thời gian. Bao giờ đứa con trai yêu dấu có thể trở lại với gia đ́nh, với ông? Tuân có cảm giác rờn rợn về nổi u uất của ông Lợi. Một sự phản kháng lặng lẻ mà quyết liệt. Về thân phận bất hạnh của ông, về sự chia ĺa đau đớn thầm lặng của gia đ́nh ông. Ông cứ ngồi như thế cho đến khi mặt trời lên cao, sức nóng tăng dần thiêu đốt thân xác ông cho bỏng rát mới thôi. Ông trở vào chiếc giường ghẻ lạnh bao nhiêu năm nay vẩn bầu bạn với nổi cô độc. Một lần v́ ṭ ṃ Tuân la cà hỏi chuyện, thấy ông nằm lặng lẽ, nước mắt ràng rụa. Tuân xin lổi ông. Mắt em cũng cay xè. Chuyện bất ngờ là thói quen ngồi nh́n mặt trời của ông vô h́nh chung đă trị được căn bệnh tê thấp đă hầu như bất trị. Đôi chân ông từ từ lấy lại cảm giác. Ông tập bỏ gậy lần từng bước trong sân, sau đó ra khỏi nhà, xuống xóm. Trong những dịp đi chơi xa như thế ông thường rủ Tuân đi cùng để đở đần giúp đở ông trong những bước khó khăn, và hơn nửa có người cho ông tâm sự. Thời trai trẻ ông đi buôn đường dài, từng trải, biết nhiều. Thấy Tuân thích học hỏi, nhiều khi ông dừng lại bên bờ tre vạch lá chỉ cho Tuân từng dấu khất, và tiên đoán t́nh h́nh lủ lụt trong năm. Lúc đầu Tuân lấy làm ngờ. Nhưng kiểm chứng lại ông không hề sai...Hoặc giả ông nh́n những ổ kiến vàng  bằng một cách này hay cách khác, ông sẽ nói cho Tuân biết  đặc tính của mùa lủ lụt sắp tới. Trời đang nắng gắt, nhưng chỉ nh́n dáng bay khác lạ của những con chuồn chuồn, hoặc vài cánh vạc lạc đàn  là ông có thể nói phong phóc mùa lụt sẽ đến vào thời điểm nào. Trong cốt cách ông, theo Tuân vẩn có một cái ǵ phi phàm chứ không phải thuần kinh nghiệm sống với sông biển đường dài như mẹ nói. Mặt ông đỏ hồng phương phi với cḥm râu bạc cước trên một thân thể to lớn vửng chắc, tiếng nói rổn rảng oai nghi. Dù thờ ông bà, có điều lạ là ông chẳng bao giờ  chịu ăn đồ cúng đem từ trên bàn thờ xuống. Mẹ vẩn nói ông có cốt tiên...
     Những con nước nguồn cứ thế theo giọng kể của ông Lợi  in sâu trong kư ức Tuân về quê hương tuổi nhỏ, một quê hương thiếu b́nh an nhàn nhả “trời rằng trời hành cơn lụt mổi năm..."
    
Những con nước nguồn cứ  tràn qua kinh thành, ngập Thuận An mà về với biển, mang theo nó nổi cơ cực của xứ dân gầy. Có những năm phẩn hận, giông bảo đồng loả với cơn lụt dữ năm th́n (1952) xô long những cột kèo của ngôi nhà nơi Tuân chào đời, để tiếp đến năm sau, năm Tỵ (1953) cơn cuồng nộ của nguồn  đă cuốn phăng những làng Nguyệt biều, Long hồ về xô đổ những cửa thành khép kín Nhà đồ, Chánh tây, cửa Ngăn... d́m cả kinh thành bất hạnh dưới cơn lủ đục ngầu. Nước dâng lên cao đến thanh ngang luồn những chấn song giữa cửa sổ, xô sập những tấm phên cật tre bện cứt trâu trộn với vôi. Năm sau Ba đă dựng lại một căn nhà mới chắc chắn hơn xây bằng "ắc lô " trên nền nhà truyền đời củ tạo một nếp sống mới cho gia đ́nh, trong một miền Nam tự do đang thay da đổi sắc...

 Lê Minh Văn