Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Một Buổi ở Tiền Giang

     Tiền Giang, Định Tường, Mỹ Tho, cùng một tên gọi song đă thay đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau. Một độc giả - ông Cần, cho biết, thoạt tiên là Mỹ Tho, đến thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đổi Định Tường, nay là Tiền Giang. Mỗi lần thay tên là mỗi lần thay đổi ranh giới. Nhưng đó là chuyện của nhà cầm quyền, với tôi th́ những tên gọi như Tầm Vu, Óc Eo, Chợ Gạo, Mơ Cày... nghe đầy vẻ hoang sơ, nó gợi trí ṭ ṃ, khiến tôi muốn t́m hiểu, muốn “tham quan”.

     Năm giờ sáng, tôi đi từ Cầu Voi Tân Trụ về Tầm Vu. Qua khỏi thị xă Long An, đường đi Tầm Vu nhỏ lại và hoang vắng, nhà lưa thưa, nghèo. Hai bên đường cũng đồng ruộng nhưng không có sinh hoạt ruộng đồng, có lẽ chưa vào vụ mùa. Chạy xe trong phố phải bịt mặt (bụi bặm) lại lo nơm nớp, lạng quạng là đụng nhau, ở đây không khí trong mát, cảnh vật im ĺm, một ḿnh một lối chẳng tránh né ai. Chạy chừng mươi cây số đến trụ sở Huyện Tầm Vu, gặp con đường đất đỏ rẽ phải đi Chợ Gạo. Sách vở lúc nào cũng mô tả di tích thắng cảnh một cách hoành tráng, nhưng trên thực tế không hề có một bảng chỉ đường. Tôi phải lần ṃ hỏi từng chặng. Ở thành phố chuyện t́m đường không khó, thôn quê đă ít người, lại không mấy ai để ư chuyện văn hóa di tích. Qua một nhà quán, thấy một đám người xúm xít quanh một bầy ḅ, săm soi, xem kỹ từng con. Tôi hỏi em bán hàng:
     - Họ làm ǵ vậy?
     - Mua ḅ.
     - Để thịt hay cày?
     - Dạ xẻ thịt, bây giờ ai mà cày ḅ nữa chú. Chú uống cà phê cháu pha?
     C̣n sớm nhưng cứ OK, vừa nghỉ chân vừa thăm ḍ:
     - Cho chú 2 ly, một đen nóng không đường. Cháu biết khu “Văn Hóa Óc Eo” gần đâu đây?
     - Dạ, nghe nói đâu gần cầu qua Chợ Gạo.
     Vừa lúc có hai ông khách lớn tuổi bước vào tôi chận ngay:
     - Khu “Văn Hóa Óc Eo” chỗ nào vậy bác?
     - Gần đây rồi, chú tới đầu cầu quẹo trái chừng trăm mét, khu rào B40 là Óc Eo.
     - Hiện giờ có những ǵ ở đấy bác?
     - Có mẹ ǵ đâu, đám đất trống rào chơi dậy mà.
     Tôi ngẫm nghĩ, dân quê họ thiết thực chất phác, không quan tâm đến di tích. Di tích không nâng cao đời sống của họ bằng khoai lúa hàng ngày nên ai cũng tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt. Cạn ly cà phê chúng tôi đi tiếp. Đúng như lời chỉ dẫn, phía trái đầu cầu Chợ Gạo khoảng trăm mét, một khu đất rộng chừng mẫu tây, rào lưới chung quanh. T́m măi mới thấy tấm bảng “Nội qui bảo vệ cổ thành”, tấm bảng kẽ sơn lớn bằng nửa chiếc chiếu, cỏ cây che phủ kín mít, cố lắm mới đọc được. Có lẽ từ ngày “khánh thành” đến nay không có “quan viên” nào thăm nên chẳng ai buồn dọn dẹp. “Cổ Thành” bỏ ngơ, tôi vào xem chẳng thấy ǵ là Óc Eo.
     Một ngôi nhà trống trơn, toàn cột, phía sau là ngôi đền nhỏ, cạnh một gốc me đại thụ. Cảnh vắng tanh, cỏ mọc xanh, rải rác một vài chỗ phơi ớt hoặc hoa màu, không có ǵ gọi là dấu tích một bến cảng của nước Phù Nam (cổ) được khai quật từ năm 1943. Có tên tuổi mà không h́nh dáng. Một vài người đi đường thấy tôi chụp ảnh, dừng lại ṭ ṃ:
     - Sắp sửa xây cất ǵ hả chú?
     - Không, tôi chỉ tham quan.
     - Có ǵ mà chụp h́nh!
     Tôi không để ư thắc mắc của người đi đường, nhiều khi trả lời những ṭ ṃ của họ cũng mệt hết hơi. Tôi h́nh dung xem ngày xa xưa đây là bến cảng như thế nào. Chịu thua. Trước mặt tuy có con sông nhưng không lớn, sông lạch miền Nam th́ đầy, như vậy nơi nào cũng “bến cảng” sao. Khi đến thăm Phố Hiến (Quảng Ninh) tôi cũng không h́nh dung nổi, một thời nơi tôi đứng, là một thương cảng tấp nập thuyền buôn của người ngoại quốc. Vật đổi sao dời, đời người quá ngắn không dễ nh́n ra những ǵ tồn tại hằng trăm năm trước đây. Tôi dừng lại một hồi lâu, tưởng như đang ḥa ḿnh vào với h́nh ảnh lịch sử nay đă xóa nḥa.
     Qua cầu Chợ Gạo về Mỹ Tho, khoảng đường chừng 7 km, mát mẻ thanh b́nh. Đời sống dân chúng trông nhàn nhă chứ không tất bật như chốn thị thành. Vào thị xă, tôi đi t́m thăm một ông bạn cùng học chung lớp sư phạm ngày trước. Trí nhớ con người có khuynh hướng rút gọn mọi sự việc, tuổi càng lớn đầu óc càng dễ dăi biếng nhác. Có những chuyện ḿnh cứ đinh ninh nằm ḷng, nhưng kư ức đă tự động đổi thay. Rơ ràng nhà anh số 12 Đống Đa, tôi đă ở với anh cả ngày khi đi thăm trại rắn Đồng Tâm mười năm về trước. Bây giờ là quán tạp hóa chứ không phải nhà thầy Nguyễn Bá Ṭng. Lui tới hỏi một lúc, có người chỉ cho một bà giáo về hưu, bà cho hay có ông Thanh Ṭng giáo viên Nguyễn Đ́nh Chiểu, dạy toán ở cách đó mấy khu phố. Tôi mừng rỡ cảm ơn rối rít, Ṭng nào cũng được, miễn là Nguyễn Đ́nh Chiểu, thế nào họ cũng biết nhau. Quả nhiên vậy, ông Thanh Ṭng dẫn tôi đi t́m nhà ông Bá Ṭng, ông không nhớ số mặc dù ông là giáo sư toán. Ông đưa tôi trở lại đường Đống Đa. Và lui tới nhận dạng măi một hồi ông mới t́m ra nhà ông Bá Ṭng, nhà số 212. Vậy mà tôi cứ tra khảo măi số nhà 12. Hàn huyên trà nước, tôi tặng ông bạn cuốn sách. Ông xem sơ rồi ngạc nhiên:
     - Ngày xưa ông lù khù dậy mà bây giờ là nhà dăng.
     - Dăng dế ǵ, cho vui vậy mà, tôi muốn ông chỉ cho những điểm cần đi xem của Mỹ Tho.
     - Được rồi, để tôi đưa anh đi.
     Chúng tôi ra Đại Lộ Hùng Vương, con đường lớn nhất của thị xă, 6 làn xe, vào thăm trường Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu. Ngày trước, mang máy ảnh đi lang thang, muốn chụp chi tùy ư, đừng chụp các khu quân sự th́ chẳng ai nói ǵ. Bây giờ khác, tuy có rộng răi hơn những ngày sau 1975, nhưng cũng không phải tự nhiên bấm máy bất cứ đâu, dù không có bảng cấm chụp h́nh. Tôi cho anh bạn hay, năm ngoái tôi vào trường Gia Long (cũ) xin chụp vài tà áo trắng của nữ sinh nhưng văn pḥng không đồng ư, anh bảo “Được để tôi xin”.
     Thầy Bá Ṭng hát bài “Trường cũ t́nh xưa”, ngày trước anh là giáo viên Nguyễn Đ́nh Chiểu, mới hưu mấy năm nay, anh ch́a cuốn Trích Quê Hương Qua Ống Kính của tôi giới thiệu với cô giáo văn pḥng, nên mọi việc dễ dàng. Vừa đúng giờ ra chơi, những tà áo trắng thong dong qua lại trong sân trường. Tôi có cảm giác như được sống lại thời xa xưa, thời cắp sách đến trường, thời mỗi ngày bốn tiếng với phấn trắng bảng đen... Thấy trong người cũng hay hay.
     Trường Nguyễn Đ́nh Chiểu vẫn c̣n nguyên hai dăy lầu hai bên, kiến trúc cùng một nét như trường Đồng Khánh (Huế), Gia Long (Sài G̣n). Vẫn màu vôi vàng nhạt. Trước 1975 trường dành riêng nam sinh, nay chung cho trai lẫn gái. Sân trường khá rộng và dưới dạng một hoa viên, nhiều cây cao bóng mát, băi cỏ xanh... có ghế đá do cựu học sinh tặng để rải rác đó đây. Cách trang trí sân trường không khô khan cứng ngắc. Duy chỉ có “bia truyền thống” to tướng ngay giữa sân là thiếu nhịp nhàng. Anh bạn cho biết trường được chỉnh trang và xây thêm dăy nhà ngang phía trong. Tuy có mở rộng, nhưng nét kiến trúc không thuần nhất, kim cổ chỏi nhau. Cổng vào trường như cổng vào khu công sở, không cổ kính như Đồng Khánh, Gia Long...
     Dạo thăm và chụp ảnh một lúc, chúng tôi rời trường Nguyễn Đ́nh Chiểu ṿng ra bờ sông Tiền Giang, ngang qua công viên Thủ Khoa Huân, ngày trước là công viên Lạc Hồng. Tượng Thủ Khoa Huân quá lớn so với chu vi công viên. Thực ra đây chỉ là một đài kỷ niệm nhà trí thức khoa bảng và cũng là chiến sỹ chống Pháp, nhân vật lịch sử nổi bật của Mỹ Tho. Thủ Khoa Huân có đền thờ quy mô hơn ở Tân Hiệp.
     Đường Trưng Trắc bên trái công viên, chỉ có một dăy phố nh́n ra sông Bảo Định. Bờ sông như một hoa viên kéo dài. Lối đi lát gạch đỏ, đặt nhiều chậu hoa, làm cho khu phố sạch đẹp, sáng hẳn lên. Một lối thiết trí ít thấy.

     Qua cầu quây ra đường Đinh Bộ Lĩnh, đây có một ngư cảng tấp nập ghe thuyền đang đưa cá lên bờ. So với Nha Trang ghe ở đây lớn hơn nhiều, lớn như chiếc tàu buôn. Nhân công đang đóng cá vào bội, nhiều xe tải chờ sẵn bên ngoài để bốc hàng. Vào bến cá không như vào chợ, chẳng ai chào mời mua bán, cũng không mấy ai ṭ ṃ hỏi han, có lẽ họ đă quen cảnh du khách qua lại quây phim, chụp h́nh. Mọi người đang nặng nhọc với công việc, tôi ghi nhanh h́nh ảnh rồi đi qua chùa Vĩnh Tràng.
     Hôm nay là ngày Vu Lan Thắng Hội, khách thập phương đi lễ đông nườm nượp. Chùa Việt mà nét Miên. Cổng chùa ba tầng, hoa văn trang trí phức tạp công phu nhưng cao như một tháp đứng chứ không tam quan như những chùa miền Trung miền Bắc. Nhiều nhà sư đắp y vàng đang chụp h́nh kỷ niệm trước chánh điện, màu áo vàng của các sư làm cho cảnh sống động hơn lên. Nhưng, trước cổng chùa, hàng quán mua bán nhăng nhít, vui mà kém thanh tịnh.
     Mỹ Tho sau 1975 cũng có nhiều công tŕnh xây dựng, chợ mới Mỹ Tho, 4 tầng chuyên hàng tạp hóa, vải vóc bánh kẹo, nhưng ít người mua bán tầng trên, tầng hầm giữ xe cũng là nơi dân bán hoa quả họp chợ. Chợ cũ chuyên bán thịt cá. Nét kiên trúc chợ cũ thấy vẫn hay hơn. Sinh hoạt chợ búa cũng lơ thơ b́nh b́nh, hầu như cả thành phố đều vậy. Qua đường Lư Thường Kiệt, anh bạn chỉ ngôi nhà ngói ở góc đường bảo: “Nhà Tổng Thống Thiệu, nay Bí thư tỉnh ở”. Tự nhiên tôi có những cảm xúc xuôi ngược trong ḷng. Mới đó mà đă 30 năm qua, ḿnh c̣n không nhận ra dấu vết của vật đổi sao dời huống nữa những thế hệ con cháu về sau. Chúng tôi chạy qua hai hồ lớn, chung quanh bờ là vườn hoa, có lẽ đây là nơi mang nhiều nét văn hóa văn minh của Mỹ Tho. Song điểm nổi bật của Mỹ Tho ngoài trường Nguyễn Đ́nh Chiểu c̣n mộ Thủ Khoa Huân. Ông là một danh sỹ được tôn sùng qua tài học và ḷng yêu nước. Ông đỗ thủ khoa kỳ thi hương năm 1852 nên gọi là Thủ Khoa Huân. Khu mộ Thủ Khoa Huân nằm ở xă Tân Hiệp, từ quốc lộ vào hơn 3 km.
     Khu mộ rộng hơn mẫu tây nhưng đền thờ không lớn. Chu vi rào tường cổng ngơ cẩn thận. Sân xi măng rộng có nhiều chậu kiểng Mai Chiếu Thủy rất giá trị. Kêu măi không có ai. Hỏi thăm người đi đường cho hay, hằng ngày có người giữ ở phía sau. Trời nắng chói chang, trong ngoài không một bóng người, tạm nh́n qua cảnh quan rồi quay về, tôi qua xă Khánh Hậu thăm lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức.
     Từ thị xă Mỹ Tho ngược về Sài G̣n, qua địa phận Khánh Hậu, có hai cổng xây lớn như cổng chùa, mé lộ bên trái, trên khắc hàng chữ “Lăng Mộ Nguyễn Huỳnh Đức.” Từ lộ vào khu lăng chừng cây số. Đền thờ và lăng nằm chung trong khu đất không lớn. Lăng nằm bên hông trái của đền. Đặc biệt thành lăng xây toàn bằng đá tổ ong, từ hơn trăm năm, vẫn c̣n nguyên vẹn, đá tổ ong có nhiều ở Quảng Ngăi mà ít thấy trong Nam. Trước lăng có một b́nh phong khắc bài văn chữ Hán màu đỏ, tiếp là nhà bia, rồi đến mộ phần. Lăng có nét đơn giản mộc mạc, không văn vẻ phức tạp như lăng các vua triều Nguyễn.
     Đền thờ cũng nhỏ gọn, bên phải là dăy nhà xây theo bây giờ, dùng để ở. Nh́n vào trong thấy cách thờ phượng theo lối thờ gia tiên. Tôi đang có ư muốn vào xem th́ một người đàn ông đứng tuổi đi tới. Trông anh có vẻ như nhân viên làm việc.
     - Xin phép anh, tôi vào xem bên trong được không?
     - Dạ được.
     Anh mở cửa cho tôi vào. Trước hương án có bức họa lớn, anh cho biết chân dung này vẽ từ năm 1802 (1). Sau hương án là bộ ván gỗ quí, dày gần 20 phân, dài 3 m 80 rộng 1 m 80. Một chiếc ghế do vua Xiêm (Thái Lan) tặng lúc ông đi sứ năm 1797. Chiếc ghế làm bằng loại cây đen mun, chạm trổ nhiều hoa văn, chiếc ghế của người xưa ngồi đọc sách chứ không phải kiểu ngai vàng. Bên hông bàn thờ c̣n chiếc mui kiệu, một con cọp nhồi bông... hai bên cột trước điện thờ có hai khung dài như liễn, gắn nhiều chiếu chỉ ban khen từ các đời vua nhà Nguyễn. Tất cả là những di vật thời ông làm Tổng Trấn Qui Nhơn. Đă thăm nhiều đền, nhưng đây là lần đầu tôi được mục kích những di vật thực chứ không phải phục chế, tự nhiên tôi cảm thấy hănh diện về công lao đức độ của người xưa, thấy tự hào về con người và đất nước Việt Nam.
     Ra ngoài tôi hỏi thăm người đàn ông:
     - Anh là nhân viên trông coi ở đây?
     - Không, cháu là Nguyễn Huỳnh Thoại, hậu duệ đời thứ 7 của ḍng họ Nguyễn Huỳnh.
     Tôi mừng rỡ vào ngay câu chuyện:
     - Thế th́ hay lắm, xin hỏi anh vài điều...
     - Dạ được, mời chú ngồi uống ly nước đă.
     - Việc trông coi đền là do người trong ḍng họ chứ không phải nhà nước?
     - Dạ đúng dậy.
     - Thế hằng năm lễ bái không được trợ cấp ǵ sao?
     - Dạ không, mới kỳ rồi văn hóa tỉnh có sửa cho mái trước ngôi nhà thờ.
     - Ngoài đường lộ có 2 cổng lớn là do nhà nước làm?
     - Cổng đó là do Tỉnh Trưởng Năm làm trước 1975.
     - Tôi thấy Nguyễn Huỳnh như hai họ ghép lại?
     - Dạ chú nói đúng, hồi trước nguyên là họ Huỳnh, ông bị Vua Quang Trung bắt làm việc với triều Tây Sơn 7 năm (từ 1793), đến năm 1800 trở về với Vua Gia Long, sau đó được vua ban cho họ Nguyễn.
     - Các hậu duệ đời trước anh c̣n ai không?
     - Dạ, c̣n một vài người đời thứ 6 nhưng ở xa đây.
     Tôi thấy trong đền c̣n lại nhiều cổ vật, liệu người nhà tự lo có an toàn không?
     - Dạ, phải ráng giữ. Chiếc ghế Thái Lan đă nhiều lần hỏi mua nhưng bổn tộc không bán.
     Đă quá trưa, tôi phải quay về nghỉ để chiều đi Cái Bè. Ra đường lộ, nh́n lại cổng Lăng Nguyễn Huỳnh Đức, tự nhiên tôi liên tưởng so sánh cách quản lư di tích hai miền Bắc Nam. Miền Bắc hầu như lớn nhỏ ǵ cũng đưa vào khai thác kinh doanh, miền Nam tự do thoải mái hơn. Di tích lịch sử là những bài học cụ thể cho con cháu đời đời, làm sao phổ cập và khuyến khích mọi người nên t́m hiểu học hỏi, có vậy mới không phụ ḷng các bậc tiền bối đă cống hiến hy sinh.

     Trần Công Nhung