Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Giấc Mơ …Vơ Tánh

     Thưa quư thầy quư bạn, nói theo kiểu nhà văn th́ tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu. Sinh ra th́ ở chốn thị thành (Nha Trang) mà sống lại phải về nơi “khỉ ho c̣ gáy” tức xứ Vạn thôn Quảng này. Không chỉ “khỉ ho c̣ gáy” mà phải nói là chốn “bùn lầy nước đọng”, nơi “thâm sơn cùng cốc” bởi nằm sát chân núi Phổ Đà thuộc rặng Trường sơn… Tôi lặn hụp từ chốn “bùn lầy nước đọng” đó để ngoi lên quư bạn ạ! Cũng từ nơi đó, thời thơ ấu tôi có một giấc mơ rất… đơn sơ, rất… mộc mạc trong đời nhưng khó ḷng thực hiện nổi. Đó là giấc mơ … Vơ Tánh! Hay nói một cách rơ ràng hơn, giấc mơ được làm một cậu học tṛ Trường Trung Học Vơ Tánh Nha Trang.
     Học tṛ trường làng th́ khỏi phải nói nữa rồi, cha mẹ khổ sở thế nào th́ đứa con cũng cực khổ thế ấy. Cái ác hại nữa là cha mẹ tôi cơm không lành canh không ngọt từ thuở tôi c̣n trong trứng nước, từ thuở tôi chưa lọt ḷng, kéo dài triền miên đến mấy chục năm th́ bảo sao cuộc đời tôi khá được. Hết làm học tṛ thôn Hiền (tới lớp ba) ra làm học tṛ xứ Vạn (lớp nh́ và lớp nhất). Mỗi ngày lết bộ đi 3 cây số đến trường, chưa kể 3 cây số về nhà với đôi chân “cỏ bằng” muốn đi hết nổi. Cuộc đời mạt rệp như vậy khi học xong lớp nhất th́ bỗng một hôm Mẹ gọi con lại, ôm con vào ḷng âu sầu bảo “Con ơi! Con đi chăn trâu để sống nghe. Mẹ không có đủ tiền nuôi con ăn học được nữa!”. Mẹ nói mà nước mắt mẹ đoanh tṛng. Thằng con cũng khóc theo ngọt lịm. Lư do cũng giản dị thôi. Vào đầu thập niên 60, xứ Vạn không có bậc trung học. Muốn học thêm lên th́ phải đi xa vào Ninh Ḥa hoặc Nha Trang mà học. Mà không có tiền th́ đành chịu chết chớ học cái nỗi ǵ! Cơm  không có mà ăn nói chi đến học. Chỉ có đi chăn trâu đổi lúa để sống là giải pháp tốt nhất cho thằng nhóc như tôi.
     Nhưng không hiểu sao tôi lại thích học. Học hành th́ chẳng hơn ai ở trường làng nhưng lại được cái là thích học. May quá! Có một động cơ thúc đẩy mà tôi không để ư ra: Ông già tôi say sưa mỗi ngày chí tử với con ma men rượu nồng nặc, tôi chịu hết nổi, cộng thêm với lối dạy con nghiệt ngă của mẹ tôi bằng cách bủa xuống người tôi roi vọt mỗi ngày khiến tôi tưởng chừng không c̣n sống nổi. Cha mẹ tôi cứ như hai cái tai cối xay, kẻ ở đằng trước th́ người ở đằng sau, kẻ ở bên này th́ người ở bên kia. Sống ly thân năm này tháng nọ mà vẫn sống được! Đối với tôi, chỉ có “ra đi” là con đường thoát. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở để tôi thoát cũi xổ lồng. Tôi nhắm mắt hướng trông về cố xứ Nha Trang (nơi tôi chào đời ở đó mà). Tôi cũng không rơ bạn bè hay ai nói đến hai chữ Vơ Tánh từ lúc nào. Trong tập sử kư chăng với anh hùng Vơ Tánh chăng? Không! Hai chữ Vơ Tánh của Trường Trung học Vơ Tánh Nha Trang kia.
     À! Tôi nhớ ra rồi. Có mấy anh học tṛ giỏi xứ Vạn đang học trường này về quê đeo cái huy hiệu may bằng vải trên túi áo có ghi đậm nét hai chữ “Vơ Tánh” đỏ hỏn với nét mặt kênh kênh thấy phát ghét. Cứ như ta đây là ông trời con không bằng! Chính v́ vậy mà nó khơi trong ḷng tôi một giấc mơ Vơ Tánh. Tôi không khoái trường Trần B́nh Trọng Ninh Ḥa, mặc dù đây cũng là trường công nhưng lại ở gần nhà quá, tôi không thích. Tôi muốn làm học tṛ trường Vơ Tánh cơ! Thế là tôi tự động đón xe lửa từ ga Hiền Lương vào Nha Trang (dĩ nhiên là đi cọp) làm một cuộc tỉ thí với lũ nhóc sĩ tử như tôi để mong vào được lớp đệ thất trường Trung học Vơ Tánh NT, để khỏi phải tốn học phí. Giấc mơ thật đơn giản. Vậy mà tôi đă không thực hiện được giấc mộng này trong kỳ thi tuyển vào đệ thất Vơ Tánh 1960. Lư do cũng dễ hiểu. Học hành th́ “ba chớp ba nhoáng”, trường sở th́ không thông, xứ lạ quê người không biết đâu mà ḍ, nơi ăn chốn ở th́ không có. Bài thi th́ đề ra lắc léo quá. Cho nên thất bại là “cầm chắc” trong tay!
     Tôi c̣n nhớ hôm đi thi môn Toán. Đề thi ra bắt phải tính diện tích của cái hồ bơi có h́nh bán nguyệt ở hai đầu, chính giữa là hồ bơi h́nh chữ nhật (A ha! Hồi xưa mà xứ ḿnh đă có người nghĩ tới cái hồ bơi h́nh bán nguyệt rồi đó bạn ạ. Văn minh đấy chứ!). Mấy ông Thầy chơi ác! Ra đề thi lắt léo ai chịu nổi. Cứ tưởng cái óc mấy thằng nhỏ nhà quê này phong phú lắm. Tôi loay hoay măi không làm sao tính được. Thật ra cách tính cũng dễ thôi. Tính diện tích h́nh chữ nhật cộng thêm diện tích cái ṿng tṛn là xong mà tôi nghĩ măi chẳng ra. Thấy cái phần bán nguyệt ở hai đầu hồ bơi nó ḷi ra thấy “kỳ kỳ” làm sao ấy nên chẳng biết áp dụng cái công thức nào cho đúng. Đại khái b́nh phương bán kính rồi nhân “pi” ǵ đó. Rốt cuộc: “Trượt vỏ chuối” cái rầm! Người ta trượt không sao. Tôi trượt mới khốn nạn! Lại phải về quê “chăn trâu” theo lời Mẹ gọi.
     Ngày đi xem kết quả, đứng trên lầu hai Trường Vơ Tánh để nghe xướng tên, thấy oai phong ra phết (mặc dù chưa biết đậu rớt thế nào). Loa phóng thanh kêu tên sĩ tử trúng tuyển oang oang, tới lượt tên ḿnh người đọc… bỏ sót! Nói thiệt quư bạn, lúc đó tôi thiếu điều muốn nhảy lầu tự tử cho xong. Cái số không làm được học tṛ Vơ Tánh th́ đành chịu vậy. May sao, tôi cầm ḷng được, không nhảy lầu. Buồn quá, ra khỏi cổng trường, tôi quyết định đi theo đám bạn vô danh nào đó vừa thi đậu. Tụi nó mừng hớn hở về nhà th́ ḿnh đi theo luôn tới tận xóm Cồn trốn biệt nửa tháng ở đó. Báo hại mẹ tôi chẳng thấy con đâu. Con người ta thi cử lũ lượt về quê hết rồi mà thằng con trai “cưng” của bà chẳng thấy nó đâu. Cuối cùng th́ bà cũng ḷ ḍ t́m đường vào NT, không biết nhờ ai mách nước, bà xuống tới tận xóm Cồn t́m được thằng con “yêu quư” mang về quê đánh cho một trận nhừ tử! “Con ơi là con, con bỏ đi đâu mà để mẹ kiếm mỏi mắt?” Trót, trót! Bà cầm roi quất vào người tôi loạn xạ, tưởng sắp chết tới nơi! Tôi có số ăn đ̣n. Làm ǵ cũng bị đ̣n. Đánh bi đánh đáo cũng bị đ̣n, đi chơi đá banh đánh banh, bắt dế với bạn bè cũng bị đ̣n… Một năm 365 ngày, ngày nào không ăn đ̣n coi như ngày đó không ăn cơm. Cuộc đời nghiệt ngă thế bạn ạ. Vậy mà tôi cũng thương Mẹ chết được!
     Nhưng tôi cũng không chịu thua. Tôi thích đi học! Thật ra tôi muốn thoát cũi xổ lồng th́ đúng hơn. Tôi bảo mẹ tôi là nếu mẹ không có tiền nuôi con th́ cứ để cho con đi “bụi đời” để học. Nghe mâu thuẫn quá phải không bạn? Đi “bụi đời” mà bảo là đi học!? Bà Mẹ nào dám cho. Nhưng tôi quyết chí ra đi. Tôi đi một ḿnh vào Nha Trang t́m đường học, t́m đường sống. Việc thi rớt đệ thất vào trường công lập Vơ Tánh Nha Trang đă đưa cuộc đời tôi vào một ngả rẽ kinh khiếp. “Go to the hell” đấy bạn ạ! Ra ngoài học trường tư th́ lại tốn tiền bạo. Tiền đâu mà học? Trường công th́ lại thi rớt. Tôi như đi vào một phương trời vô định. Cơm không có ăn, áo không có mặc, làm sao có tiền để ăn học. Năm đó, tôi chỉ mới chừng 10 tuổi. Hỉ mũi c̣n chưa sạch mà đă dám bỏ nhà ra đi! Ôi cái thằng con ngổ ngáo. Mẹ tôi cuối cùng phải chịu thua ư muốn đi học của thằng con nên bà lặng lẽ theo dơi tôi ở chỗ nào th́ bà rán mang theo cơm gạo để nhờ người ta nuôi hộ. Cuộc đời học hành lang bạt kỳ hồ của tôi bắt đầu từ đó (1960/61). Hết học Bết lê Hem (Trường Tin lành ngoài Đồng Đế NT) th́ quay về học trường Công giáo Du Sinh (Giuse) ở ngoài Giă (năm 1962 bắt đầu có trung học tư thục mở tới lớp đệ lục do mấy Thầy gịng lo). Hết Du Sinh (tới đệ ngũ là hết lớp) th́ nhảy vào Trường Tư thục Văn Hóa Nha Trang (1965) để học cho hết lớp đệ tứ mà chuẩn bị tinh thần để đi thi lấy bằng Trung học. Chính năm này là năm bước ngoặc đă thay đổi cuộc đời cùng khổ của tôi và cho phép tôi thực hiện được giấc mơ … Vơ Tánh!
     Năm lớp đệ Tứ ở trường Văn Hóa Nha Trang (ngay quốc lộ 1 Sinh Trung) là năm khốn khổ nhất đời tôi! (Hồi đó Thầy Nguyễn Bá Mậu làm Hiệu trưởng). Khốn khổ không phải là nhà trường làm khó dễ ǵ đối với một thằng học tṛ xứ Vạn không có đầy đủ học bạ như tôi mà dám nhảy vào lớp đệ tứ, nhưng khốn khổ là bởi mới học được có 3, 4 tháng th́ v́ không có tiền đóng học phí nên nhà trường đành mời thằng nhỏ đi chỗ khác chơi. Nói thẳng ra là bị đuổi học. Cái này mới kẹt! Anh em ngoài Giă vào đây học chỉ có chừng 5, 6 ngoe (nào Tám, nào Triệu, nào Sơn nhỏ v.v…) mà đứa nào cũng đều là con nhà giàu hoặc phú hộ, có tiền có của chỉ trừ tôi là khố rách áo ôm. Tất cả mấy anh em xứ Vạn đều mướn nhà trọ ở đ́nh Sinh Trung (cạnh bến xe đ̣ Nha Trang) để đi học cho gần trường chớ không phải để đi tu. Riêng tôi, bởi không có tiền nên chẳng trọ vào đâu được, đành phải theo làm cái “đuôi” xin tá túc với đám bạn này. Tụi nó thương t́nh nên tôi khỏi phải trả tiền thuê. Nhưng cái khốn khổ nhất của tôi không phải là chuyện tá túc hay học hành mà là chuyện… không có cơm ăn để đi học!
     Tôi là con có cha có mẹ đàng hoàng mà chẳng khác ǵ kẻ mồ côi. Mỗi ngày không có cơm ăn đành phải ăn khoai lang hoặc bánh ḿ ổ (không thịt) chấm đường ăn thay bữa (khoai lang và bánh ḿ rẻ tiền mà!). Hôm nào bạn bè thương th́ nó “bao” đi ăn tiệm hoặc quán cơm chay, hoặc theo xuống quán cơm Bộ xă hội (Ty Xă hội ở gần sân banh) ăn “ké”. Hôm nào không có ăn th́ nằm “́” trên cái giường xếp đắp mền thoa dầu nhị thiên đường rên hừ hừ chịu trận. Cái cảnh này không phải diễn ra ngày một ngày hai mà nó diễn ra quanh năm suốt tháng bạn ạ. Đói ly kỳ, đói triền miên khói lửa... May quá! Tuy đói ră họng, nhưng được mấy thằng bạn ban cho cái “job” thơm để kiếm chút cơm ăn mỗi ngày. Nhiệm vụ là phải làm hộ bài tập cho tụi nó khi tụi nó đi chơi. Trời sinh cũng lạ, đói rạc gáo không có cơm ăn áo mặc mà đầu óc th́ lại minh mẫn hết chỗ chê. Bị nhà trường đuổi học v́ không có tiền đóng học phí mấy tháng qua đành phải ở nhà xin bài vở anh em học ở trường về học “ké”. Bài vở “ké”, sách vở “ké”, chỉ có ông Thầy và Bà Cô là không “ké” được thôi. Thế mà nhờ trời thương, học đâu hiểu đó. Đến nỗi một người đẹp nữ sinh thuộc loại giỏi nhất lớp đệ tứ Văn Hóa là Mỹ Nữ (nhà bán xe đạp ở đường Độc Lập trước Ty Thông tin) cảm động quá mang tới tận nhà trọ tặng cho người viết bản nhạc “Tháng 7 mưa ngâu” bảo đàn hát giùm, rồi người đẹp lại đ̣i chỉ giùm bài tập nữa chớ! Trong tập vở c̣n kèm theo một lá thư t́nh. Hết ư! Đi học ở trường có thầy có bà c̣n chưa xong, huống hồ cái thằng học “ké” tại gia này mà lại đ̣i chỉ bài?
Nhưng may, cũng nhờ anh em xứ Vạn tốt bụng, chúng lười th́ ḿnh siêng, chúng đi chơi th́ ḿnh ở nhà làm bài giùm rồi viết vô tập vở cho tụi nó để hôm sau tụi nó có bài mà tŕnh cho Thầy. C̣n ḿnh th́ có ăn nên bù lại đỡ phải lo cơn đói triền miên… Áo quần không có mặc th́ có bạn Vơ Tám làm sở Mỹ ban đêm cho mặc ké. Áo quần hắn mới keng và toàn loại vải thứ chiến, đắt tiền. Hắn mặc áo quần chỉ có một ngày rồi bỏ ủi. Tôi tiếc quá xin mặc ké một hai ngày trước khi giao thợ ủi. Hắn mặc hôm trước thay ra th́ hôm sau tôi mặc vào. Cho nên ra đường hay lảng vảng ở trường Văn Hóa thiên hạ đều thấy thằng này coi vậy mà ăn mặc bảnh bao. Chắc là con nhà giàu có!!!???  Viết tới mấy gịng này, xin cảm tạ ngàn lần mấy ông bạn bè xứ Vạn! Thiếu mấy bạn, người viết chắc chết đói từ lâu rồi (cũng xin mở thêm dấu ngoặc ở đây là mấy anh em bạn bè kể trên sau này đi lính, phần lớn đă hy sinh. Xin thắp một nén nhang ḷng để tưởng niệm những người bạn quá cố!).
     Không học bạ, không có trường học, vậy mà năm 1965 cũng ḷ ḍ đi thi trung học, suưt chút nữa th́ mất mạng. Buổi sáng nọ trước ngày thi một ngày, tụi tôi gồm một lô học sinh từ ngoài Giă vào Nha Trang chuẩn bị đi thi. Khi xe đ̣ tới Lạc an th́ bị VC đắp mô tùm lum trên đường khiến chẳng ai dám qua v́ sợ bị ḿn. Sau đó du kích VC xuất hiện bắt cả đám tụi tôi lên núi kể cả người lớn. Tôi hoảng quá v́ nếu bị bắt làm du kích th́ cuộc đời tôi coi như đă tàn! May sao, đi được chừng một cây số, có người thương t́nh xin xỏ mấy tên du kích thả chúng tôi ra v́ thấy chúng tôi c̣n nhỏ, c̣n họ th́ ở lại chịu trận. Nhờ vậy mà tụi tôi thoát nạn. Tuy nhiên chúng buộc tụi tôi phải về lại chớ không được đi tiếp vô Ninh Ḥa. Báo hại anh em chiều hôm đó phải quay trở lại Giă và xuống gấp bến đ̣ Tân Mỹ để mướn ghe chạy vào NT suốt đêm. Đêm đó, khi tàu chạy ngang mũi Lương Sơn gần Nha Trang, sóng to gió lớn nổi lên suưt chút nữa đánh úp thuyền. Ai nấy đều cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi. Rất may, sau đó mọi sự cũng trôi qua, sóng êm biển lặng trở lại, ghe tụi tôi tấp vào băi biển NT vào đúng 5 giờ sáng. Lúc đó chỉ c̣n đủ th́ giờ cho tôi phóng nhanh về nhà trọ của người bạn học cùng trường VH là Phạm Theo ở xóm Ḷ Heo để rửa mặt qua loa rồi tức tốc chạy đến trường thi cho kịp giờ. Trong bụng không có một hột cơm mà cũng chưa có được một chữ để cầm hơi. Thế mà một chuyện lạ (miracle) đă xảy ra làm thay đổi cuộc đời tôi đến tận gốc!
     Kỳ thi Trung học năm ấy, người viết đứng đầu trời ạ! (Ban Anh văn năm ấy chỉ có một ḿnh tớ đứng đầu sổ. Rơ chết chưa!) Lại thêm cái chết người nữa là trường Văn Hóa (nơi đă đuổi ḿnh ra v́ thiếu tiền học phí) năm ấy thấy ḿnh đứng đầu nên nhà trường nại cớ là học sinh cũ, viết tên tuổi ḿnh to tổ bố trên tấm vải trắng cũng to tổ bố căng ngang trước cổng trường VH một ḿnh một chợ cho ông đi qua bà đi lại xem để lấy tiếng là trường dạy giỏi (Tôi c̣n nhớ trước chúng tôi một năm [1964], người đậu tối ưu của trường VH là LK Aùnh cũng được nhà trường căng vải biểu dương đă làm tôi lác mắt. Không ngờ năm sau lại chính tên của thằng tôi nằm ch́nh ́nh trên tấm vải căng ấy). Mấy anh em khác tuy là “con cưng” của trường mà đậu thấp từ b́nh thứ trở xuống thứ đành chịu viết chữ nhỏ treo ở hai bên cánh gà ở ngay cổng ra vào. Tôi đi ngang qua ngang lại thấy tên ḿnh to tổ bố nằm chóc ngóc phía trên mà phát cười… Con ghẻ, đứa con bị tống cổ ra khỏi trường không chút xót thương mà bây giờ chễm chệ có tên trên nóc cổng trường một cách le lói! Hách nhỉ! Tôi về lại xứ Vạn quê ḿnh, bà con nghe nói tôi đậu đầu ai nấy cũng giật ḿnh nể phục chẳng khác nào cảnh “đem chuông đi đánh xứ người” mà bây giờ được làm cảnh sĩ tử  “vinh quy bái tổ” về làng. Thôn Quảng tự nhiên nổi tiếng ra. Người ta đồn ở đây có quí tử (quư tử ǵ, quỷ sứ th́ có). Vậy mà cha mẹ tôi nào để ư chuyện của thằng con. Vẫn không biết nó đă lập được một kỳ công, một chuyện tưởng chừng như “kinh thiêng động địa”, vẫn không thấy mừng ǵ cho nó. Năm ấy dân xứ Vạn đậu được 3 người: một là anh bạn Vơ Tám (cũng dân VH) nhà ở bến xe đ̣ Vạn Giă (mà tôi đă bỏ công dạy kèm ảnh 3 tháng hè trước khi đi thi), hai là người đẹp NThị S. mà tôi thầm để ư từ hồi nhỏ khi c̣n học đệ lục trường Du Sinh (khi đi thi cô ngồi sát mé trái sau lưng tôi nên tôi tỏ ra hào hiệp hết mức, chẳng biết cổ có để ư ǵ cái vụ hào hiệp này không!?). Chính cái “miracle” này, cuộc đời tôi đă thắp được tia lửa hy vọng để thực hiện cho kỳ được … giấc mơ làm cậu học tṛ… Trường Vơ Tánh.
     Thật sự tôi không có học bạ. Đi học chuyển ba bốn trường lúc học, lúc nghỉ th́ làm ǵ có học bạ đầy đủ để mà xin vào trường công. Thấy tôi đậu cao mà lắng quắng chuyện trường sở như gà mắc đẻ, mấy anh bạn đàn anh xứ Vạn của tôi cũng là dân Vơ Tánh cựu trào như Trần Hữu Sơn (tác giả truyện 3 cây đu đủ trong Đặc san Hội ngộ 2004), Trần Thái Sanh mà đặc biệt là Vơ Sanh bỗng một hôm có ḷng tốt mách nước bảo “Mày chịu khó tới thẳng trường Vơ Tánh, gặp Thầy Hiệu Trưởng Lê Nguyên Diệm nói rơ trường hợp mày, may ra Thầy giúp được mày!”. Mừng như bắt được vàng, tôi chờ ngày ghi danh nhập học, phóng tới tận trường Vơ Tánh với cái bằng Trung học trên tay. Tôi gặp ngay Thầy Lê Nguyên Diệm đang đứng trước cửa văn pḥng Hiệu Trưởng. Tôi rụt rè tiến lại gần Thầy mà trong ḷng nóng như lửa đốt (bởi sợ Thầy bác đơn một cái th́ cuộc đời lại kể như đi đoong). Thầy mặc bộ veston màu nâu, con mắt Thầy hơi mại mại. Thầy nh́n tôi mà tôi tưởng Thầy nh́n đâu đâu. Thầy để hai tay phía sau dáng nghiêm nghị hất đầu hỏi:
     - Cậu cần ǵ?
     - Dạ, con muốn xin Thầy Hiệu Trưởng cho phép con được vào học lớp Đệ Tam trường Vơ Tánh. Tôi khép nép thưa.
     Thầy hỏi tiếp: Cậu đậu thứ mấy?
     - Dạ, con đậu đầu!
     - Học bạ đâu?
     - Dạ, con không có. Tôi vừa nói vừa găi đầu lo sợ… th́ Thầy tiếp:
     - Đưa bằng đây xem.
     Tôi khoan khoái đưa ra. Thầy nh́n sơ qua một cái biết là thằng nhỏ không nói xạo. Thầy quay vào văn pḥng lấy tấm giấy viết vội mấy chữ rồi bảo tôi “Con cầm giấy này xuống pḥng Học vụ để Thầy Thanh làm thủ tục nhập học”. Trời ơi! Tôi khóc được bạn ạ! Giấc mơ Vơ Tánh của tôi đă trở thành sự thật rồi! Tôi hết đi nổi. Khi tôi viết những gịng chữ này th́ Thầy HT Lê Nguyên Diệm đă không c̣n nữa… Ô ḱa! Sao viết đến đây lại có những giọt nước mắt nhỏ xuống trang giấy thế này bạn nhỉ?
     Giấc mơ Vơ Tánh coi như đạt được. Tôi hăm hở chờ ngày khai trường. Lúc đó, nhờ đậu cao, danh tiếng nổi như cồn trong họ hàng, ông cậu tôi bèn giới thiệu cho tôi cái “job” thơm là dạy kèm lũ trẻ thuộc một gia đ́nh thương gia ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gần bờ sông theo Mé Chợ Đầm (mà sau này nợ duyên đă biến tôi thành con rễ gia đ́nh đó. Chắc là duyên tiền kiếp?). Nhà buôn bán khá giả, tôi được ăn ở tại chỗ, tới tháng có lương. Chủ nhà thấy tôi không có áo quần tươm tất bèn dắt lên nhà may Nghĩa (góc Phan bội Châu) may cho mấy bộ đồ mới toanh mặc làm kiểng. Cuộc đời từ đó kể như lên hương. Ba tôi, thợ sửa xe đạp, ông ráp cho tôi một chiếc xe đạp màu đen đặc biệt để đi học. Ba tôi c̣n dặn “Tối tối con nhớ xả lốp hơi ra, sáng chịu khó bơm lại cho đỡ hư ruột”. Tôi nghe lời ông làm theo nhưng ai thấy tôi làm như vậy cũng đều tức cười bảo “Mày keo cũng vừa thôi!”.
     Ngày khai trường, tôi mặc bộ đồ mới, đạp chiếc xe đạp đen của ba tôi cho, đến trường Vơ Tánh lúc sáng sớm. H́nh như lúc đó chưa mấy ai tới, kể cả lũ học sinh (dân học tṛ VT chính cống chúng chẳng màng ǵ tới việc đi sớm). Chỉ có tôi, học tṛ mới nên nôn nao. Cổng chính nhà trường lúc đó đă mở toang. Hai bên có hai cổng phụ để vào. Thấy cổng chính trống trải, tôi hăng hái đạp xe vô trong một cái vù tưởng êm chuyện. Ai dè ở đâu đó lù lù ra một ông Thầy (1). Ông bước vội tiến về phía tôi, mặt Thầy có vẻ “serious” lắm, Thầy nắm vai áo tôi xốc lên hỏi “Cậu làm cái ǵ vào đây? Cậu có biết cái cổng lớn dành cho ai không?” Tôi sợ xanh mặt bởi nào biết ất giáp ǵ, cũng không ngờ có cảnh này… Tôi lắp bắp trả lời “Thưa Thầy, con là học tṛ mới vô chưa biết luật lệ, xin Thầy tha thứ”. Thầy chỉ ngón tay trỏ vào mặt tôi bảo “Cổng lớn dành cho giáo sư, học sinh chỉ được vào cổng nhỏ hai bên. Bận sau không được đi như thế nữa nghe chưa? Cậu mà phạm luật, tôi đuổi cậu ra khỏi trường…”. Tôi tá hỏa tam tinh. Sau đó, Thầy chỉ cho tôi chỗ đậu xe. Tôi run như cày sấy.  Bỗng dưng tôi cảm thấy ngày khai giảng thật là u ám trong tâm tôi. Sau đó tôi mới biết đó là Thầy Dành (Tổng giám thị của trường VT). Kể từ đó, tôi rất e dè cái kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường và chẳng bao giờ c̣n dám tái phạm nữa. Bị một lần như thế tôi tởn tới già!
     Buổi sáng hôm ấy, v́ học ban Toán (Anh văn), tôi được nhà trường chia vào lớp đệ Tam B2. Đám Văn Hóa lọt vào lớp tôi c̣n có Vũ Chu Nhương, Nguyễn Cao Khiết , Nguyễn Duy Thêm (ban Anh văn), Đỗ đ́nh Ḥa (tự Ḥa ruồi), Lê Mau ban Pháp văn. Nơi đây tôi cũng gặp lại được người bạn đệ thất vô danh năm xưa, người đă đưa tôi về ẩn náu ở nhà nó nửa tháng dưới xóm Cồn cho mẹ nó nuôi: Đó là bạn Nguyễn Thành Huy (nhà có 3 anh em trai cùng học Vơ Tánh), học ban C.  Tính tổng cộng có tới tới khoảng 6 (hay 7?) lớp đệ tam. Vị thầy đầu tiên tôi gặp buổi sáng hôm ấy là thầy dạy toán Trịnh Minh (phụ trách lớp). Thầy đẹp trai, dễ thương. Thoạt tiên Thầy hỏi cả lớp một câu thiệt cắc cớ “Em nào đậu đầu trong lớp đâu cho Thầy biết?”. Ư của Thầy là xem ai đậu ưu, đậu b́nh, b́nh thứ, thứ v.v… để cho thầy dễ nhận mặt đó mà. Hỏi từ ưu tới b́nh chẳng thấy ma nào nhận, kể cả những học sinh VT gạo cội. Tôi nh́n quanh quẩn cả lớp không thấy ai, cuối cùng tôi đành bẽn lẽn giơ tay lên có… một  ḿnh, trong khi bao cặp mắt đổ dồn về phía tôi trông như một hiện tượng lạ (bởi ḿnh là dân trường ngoài mà dám nhảy vào chiếm đầu sổ!). Lần đầu tiên tôi biết ngượng là ǵ! Rồi Thầy hỏi tiếp tới b́nh thứ, trên chục ngón tay đưa lên, c̣n hạng thứ th́ nhiều, hầu như giơ tay hết cả lớp.
     Cái ước mơ thứ hai gắn liền cái ước mơ VT là làm sao gắn cho được cái huy hiệu hai chữ Vơ Tánh lên ngực cho nó oai. Cũng có thể là để làm le với đám nữ sinh NTH hoặc các trường tư thục khác ở bên ngoài chăng (?). T́nh h́nh sao có vẻ im ắng quá. Chờ đợi hai, ba tuần liên tục chẳng thấy tăm hơi ǵ về việc này, tôi bèn mượn đỡ cái huy hiệu cũ mèm của một thằng bạn cựu VT gắn lên túi áo cho nó oai. Hôm ấy đám cựu VT biết được, tụi nó cười tôi thiếu điều muốn độn thổ. Lư do là chẳng có ma nào thèm đeo cái huy hiệu đó cả nếu nhà trường không bắt buộc chúng phải đeo. Thế mà tôi cứ làm cái chuyện ngược đời nên thấy ḿnh hợm hĩnh hết chỗ nói!
     Trở lại lớp B2 chúng tôi, thật ra có những tay học cừ khôi lừng danh số 1 của trường như (2) các bạn Phạm Đan Quế, Nguyễn Ngọc Am, Phạm Xuân Quế, Vơ Văn Dối, Vũ Chu Nhương, Tôn Thất Trác v.v… c̣n bên B1 có các bạn trứ danh như Nguyễn Đăng Doanh, Đỗ Lê Viên, Đỗ Đ́nh Ḥa, Lê Xuân Đính, Nguyễn Sĩ Chính, Hồ Chánh, Trương Luân v.v… và lớp B3 có Nguyễn Tiến Quyền, Vơ Văn Hân, Vơ Thế Phiệt v.v… Ban A1 có Phạm Quang Tố (tục gọi Tố ruồi) v.v… Hầu hết các bạn dân VT chính cống đều học giỏi và luôn thay phiên đứng nhất lớp nên rất được thầy thương bạn mến. Riêng tụi tôi, đám dân “ngoại” vào cũng chưa quen biết Thầy Cô là mấy nên cũng “gờm” mấy tay cựu VT này lắm. Ai nấy cũng đều gặp khó khăn lúc ban đầu. Tuy nhiên qua một thời gian “thử lửa”, nhờ trời thương, đầu óc cũng “not too bad”, tôi thấy ḿnh tự tin hơn nên học giỏi hơn. Thêm vào đó được thầy yêu bạn mến, cái thằng tui này (xin lỗi) hầu như liên tục chiếm giải nhất, nh́ lớp B2 trong 3 năm đệ tam, đệ nhị và đệ nhất từ niên khóa 65-68 (lại là một kỳ công khác nữa). Năm nào cũng kéo nhau lên tŕnh diện ở rạp chiếu bóng Minh Châu để lănh phần thưởng nhất hoặc nh́ (không có giải ba). Hănh diện quá đi chứ! Đặc biệt năm đệ nhất được lănh thêm cái học bổng “học sinh nghèo xuất sắc nhất B2” tại trường Nam tiểu học NT nhưng số tiền này cũng chỉ đủ để bao mấy thằng bạn du côn uống nước được vài lần. Hôm đó nghe tin ḿnh đi lănh tiền, tụi nó đứng chờ sẵn ngoài cổng.
     Về thể thao, tôi cũng tham gia vào các đội túc cầu hoặc bóng chuyền nhưng chơi dỡ như hạch. Các bạn bè VT thần tượng của tôi lúc đó có Lam, Bô (VT70/71) và anh em nhà Nguyễn Toàn, Nguyễn Vẹn (cùng lớp tụi tôi). Đó là những tay đá banh kiệt xuất của trường. Ngoài ra, anh em nhà Toàn & Vẹn cũng là hai tay chơi bóng chuyền trứ danh nhất của trường với những cú “đập” liên hoàn thần sầu quỷ khốc (nay th́ chỉ c̣n Vẹn, Toàn đă quá văng rồi!). Tụi tôi sống và học hành từ đệ tam lên đệ nhất trong t́nh bạn hữu gắn bó thâm sâu. Qua các năm học, bạn bè dần dần rơi rụng, kẻ c̣n người mất, kẻ đậu người rớt, người đi lính kẻ tiếp tục học hành nhưng lúc nào cũng quư mến nhau như anh em. Riêng đối với Thầy Cô, chúng tôi vẫn một ḷng kính mến. “Nhất tự vi sư bán tự vi sư mà”. Tôi c̣n nhớ, các thầy dạy toán tôi mê nhất là Thầy Trịnh Minh, Thầy Ngô Liệp, Nguyễn Phương vàø Thầy Bùi Ngoạn Lạc. Về Triết, tôi mê Thầy Ngô Đức Diễm, Thầy Vơ Túc. Về Pháp văn có Cô Tôn nữ Tri Chỉ (hơi khó tính)… Về Anh văn có Thầy Dàn… Đặc biệt năm đệ nhất B2, tụi tôi học toán với Thầy Bùi Ngoạn Lạc (Thầy phụ trách lớp B2) và là vị Thầy mà chúng tôi quư mến nhất. Thầy đẹp trai, điềm đạm và nghiêm minh. Thầy ăn nói chững chạc nên học tṛ sợ thầy sốt vó mỗi khi phải trả bài. Riêng tôi, nhờ “tụng” thuộc nhàu cuốn sách toán gối đầu giường của Thầy cùng quyển toán của Gs Nguyễn Xuân Vinh mà tôi trở thành thằng “master” về toán và cũng là học tṛ “cưng” nhất của Thầy. Lúc nào Thầy cho bài tập làm nhanh, tôi cũng đều chạy lên tŕnh diện Thầy trước nhất. Nhờ đó mà được điểm cao. Bù lại đôi khi phải “vất vả“ theo lệnh Thầy đứng trên bảng để giải lại bài tập cho anh em xem. Làm cái “job” bất đắc dĩ này thay thế cho Thầy thấy cũng run lắm nhưng được cái cũng rất hănh diện. Cám ơn Thầy Bùi Ngoạn Lạc!
     Để kết thúc bài “Giấc mơ VT” này, xin kể thêm cho quư bạn nghe câu chuyện t́nh một chiều (one way) ướt át của tôi để biết là hồi nhỏ trái tim nó cũng đă bị rướm máu. Số là trường Vơ Tánh chỉ toàn là nam sinh. Chỉ có đệ nhất ban C mới có nữ sinh mà thôi. Không hiểu có phải v́ trường thiếu người đẹp hay không mà tôi lại đâm ra “yêu” một cô nữ sinh đệ nhất (năm đó tôi chỉ mới đệ tam). Người đẹp ấy có tên là MH ai cũng biết. Nàng vừa đẹp vừa khá nổi tiếng ở trường cũng như ở ngoài đời với thân h́nh hết sức hấp dẫn. Lúc đó nhờ có tài làm “thơ con cóc”, tôi mới viết tặng nàng mỗi ngày một bài thơ theo đủ thể loại. Từ lục bát, đến thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt đến đường luật ǵ… tôi cũng làm ráo. Lúc đó tôi cứ tưởng ḿnh là hậu duệ của thi sĩ Bích Khê hay Hàn Mặc Tử không chừng. Người t́nh nguyện mang thơ của tôi đến “dâng” cho người đẹp là bạn cùng lớp tên Hoàng MD (nam ca sĩ đài phát thanh NT). Tôi viết tặng nàng 7 bài thơ đúng một tuần lễ và nam ca sĩ bạn tôi cũng sẵn sàng mang đến trao tận tay nàng mỗi ngày…  Nhưng tới ngày thứ bảy, thằng bạn tôi đến báo một tin buồn… Hắn nói “Tao không mang thơ của mày đến cho nàng được nữa bởi v́ cổ nghĩ là tao… yêu cổ”. Kể từ đó, cái mộng làm thơ t́nh kiểu Hàn Mặc Tử của tôi kể như đi đoong và bây giờ chỉ c̣n nhớ vỏn vẹn có 4 câu “thơ con cóc” trong bài thơ t́nh 16 câu như sau:
          “Tôi yêu người nữ sinh đệ nhất,
          MH, MH tên nàng làm tôi ngây ngất,
          Ngây ngất như qua một đêm mơ,
          Ḷng sướng run lên bần bật.…”
     Cuối cùng th́ tôi cũng xong cái Tú Tài 1 và 2 với hạng cao. Thế là măn nguyện cái giấc mơ được làm cậu học tṛ Vơ Tánh của ḿnh. Tuy nhiên, khi tôi từ bỏ Nha Trang phóng vào Sài g̣n để làm cuộc đời mới của một chàng sinh viên ở chốn phồn hoa đô hội và hoàn toàn xa lạ, tôi cảm thấy ḿnh như người từ trên trời rơi xuống vực thẳm mênh mông… Cuộc đời tôi lại phải bắt đầu lại từ đầu với những khổ đau, nhọc nhằn… y hệt như những ngày cơ cực mà tôi đă nếm qua năm 1965 khi c̣n là một học sinh đệ tứ.
     Ôi! hănh diện biết bao được làm một cậu học tṛ Trường Trung học Vơ Tánh Nha Trang! Dù sao, được nên người như ngày hôm nay cũng là nhờ công ơn của quư Thầy Cô dạy dỗ. Tôi nguyện không bao giờ quên và xin có lời cám ơn đến quư Thầy Cô, bạn hữu cùng mái trường Vơ Tánh thân yêu đă chở che tôi trong bao nhiêu năm qua mà Thầy HT Lê Nguyên Diệm là người đă cho tôi cái diễm phúc thực hiện được giấc mơ này. Hôm nay, con xin được thắp lên nén hương ḷng này để tưởng nhớ đến người Thầy Hiệu trưởng kính yêu cùng những vị Thầy Vơ Tánh đă quá văng mà suốt đời con đă không bao giờ c̣n cơ may gặp lại quư Thầy được nữa. / -

     Người Xứ Vạn
     (VT 67–68)
     (Úc Châu)


     Ghi chú đặc biệt:

     - Xứ Vạn (tức Vạn Giă - tên thị trấn)
     - Quảng (tức Thôn Quảng Phước - làng tôi)
     - Hiền (tức Thôn Hiền lương có Trường Tiểu học Vạn Lương)
     - Vạn Giă (có Trường Tiểu học Vạn Ninh)

(1)     Thầy Nguyễn Văn Dành, Tổng giám thị. (Xin mở dấu ngoặc ở đây, khi ra hải ngoại, tôi có ghé thăm Thầy. Nhà Thầy gần nhà tôi ở Brisbane, Úc châu. Thầy mất cách đây hơn cả chục năm. Hiện giờ chỉ c̣n cô Dành (tức cô Lê Thị Trúc) thường xuyên sinh hoạt với Hướng Đạo và sống với các cháu. Tất cả các con của Thầy nay đều thành tài, hầu hết là nha sĩ và bác sĩ).

(2)     Các bạn bè cùng lớp VT 68-69 của tôi sau này thành tài có:

* Y khoa: Các Bs. Vơ Văn Lượng (VN), Tôn Thất Trác (Canada), Phạm Quang Tố  (USA), Vơ Văn Hân (đă quá văng), Trương Luân (VN) v.v…
* Kỹ sư & Khoa học:  Phạm Đan Quế (Canada), Nguyễn Ngọc Am (USA), Vũ Chu Nhương (Canada), Đỗ Đ́nh Ḥa (VN), Lê Xuân Đính (VN), Nguyễn Sĩ Chính (San Jose), Hồ Chánh (VN), Vơ TP (Úc), Nguyễn Tiến Quyền (USA) v.v…
* Luật khoa: Ls. Đỗ LV (Úc) v.v…
* Chính Trị Kinh Doanh (Đà Lạt): Nguyễn Duy Thêm.
* QG Hành chánh: Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Thành Huy, Nguyễn Nhung