Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Con Chuột

            Khi được tin Thanh, người bạn đồng tù “cải tạo” năm xưa  đă qua đời ở Việt Nam, tôi thật đau ḷng và hối tiếc cho anh. Phải chi anh cùng tôi sang tỵ nạn ở đất Mỹ này, để hít thở không khí tự do, để hưởng nền y tế tiên tiến của quốc gia văn minh này th́ đâu có chết nhanh chóng như vậy! Tôi c̣n nhớ  lần cuối gặp anh trên cầu chữ Y vào buổi chiều một năm trước ngày tôi lên đường đi định cư ở Hoa kỳ. Lúc ấy tôi đang g̣ lưng đạp chiếc xe cũ kỹ lên dốc cầu, bỗng thấy một thanh niên cưỡi chiếc xe gắn máy hiệu Honda mới toanh, ngoắt tay gọi tên tôi và ra dấu ngừng lại. Tôi nh́n anh và nhận ra Thanh, mặc dù anh đă  thay đổi nhiều. Chúng tôi tựa vào thành cầu thân mật tṛ chuyện. Anh hỏi tôi:   

            - Nghe nói anh sắp đi Mỹ theo diện H.O. phải không?

Tôi nh́n anh vui vẻ đáp:

- Vâng, phái đoàn Mỹ phỏng vấn đồng ư cho đi rồi. Chỉ c̣n chờ khám sức khỏe là xong. Anh cũng làm xong thủ tục đi tỵ nạn ở Mỹ rồi chứ?

Anh quay mặt nh́n gịng nước chảy dưới cầu, trả lời giọng không vui:

- Không, tôi không đi. Anh nghĩ sang Mỹ mà làm ǵ? Đất nước Việt Nam hết chiến tranh, thanh b́nh trở lại rồi. Sang bên xứ lạ, làm ǵ mà sống? Nhất là định cư ở một xứ tư bản,  ḿnh sẽ bị kỳ thị, bóc lột… sống sao nổi!

Tôi nh́n thân h́nh mập mạp của anh mà ngao ngán lắc đầu.

Mười năm trước, anh nằm sát bên tôi ở trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hoá. Người bạn đồng cảnh ấy vốn hiền từ, nhút nhát, bỗng một hôm xuất hiện trong buổi văn nghệ của trại, với khăn rằn quấn cổ, với chiếc mũ tai bèo, với những bài vọng cổ sặc mùi “cách mạng”! Tôi tưởng anh muốn lấy ḷng  cán bộ trại để được về sớm. Nhưng kết quả anh vẫn không được ưu đăi ǵ. Trái lại, bản thân anh ngày càng ốm o gầy ṃn, bởi thiếu ăn mà vẫn phải cố gắng “tập tuồng” những bài cải lương “ca ngợi giải phóng”!

            Năm năm sau, anh được về cùng đợt với chúng tôi. Trong những ngày mới được phóng thích, anh ta được nhận vào làm ở Cửa hàng thực phẩm Vissan Sài g̣n. Có lẽ mẹ anh có “liên hệ với cách mạng” từ trước năm 1975! Chỉ một thời gian ngắn, anh phương phi béo tốt hẳn lên. Hôm nay, nghe người bạn từng bị  kết tội  “ ngụy quân ngụy quyền” phải đi tù năm năm, lại thốt ra những lời chê bai xứ Mỹ tự do, khen đất nước Việt Nam hiện tại “an b́nh, tốt đẹp”, và từ chối không đi tỵ nạn ở Hoa kỳ, th́ tôi thật ngao ngán…

            Tôi nh́n anh, lên tiếng sau một lúc cố nén bực tức:

            -Bạn ạ! Chắc anh chưa quên những năm tháng đói khổ trong trại “cải tạo” Thanh Cẩm.  Chắc anh chưa quên cảm giác thèm thịt, dẫu một miếng thịt chuột mà hôm ấy chúng ta cùng chia nhau…Nhưng về đây anh có may mắn được cho vào làm việc ở một nơi sản xuất thịt heo như công ty Vissan. C̣n tôi vẫn c̣ng lưng đạp xe đi làm thư kư cho các cơ sở sản xuất tư nhân, lương không đủ sống, thịt không được mua dễ dàng như anh… Hôm nay anh hỏi tôi “sang Mỹ làm ǵ?”,  tôi xin trả lời: “Tôi sang Mỹ để có miếng thịt mà ăn! Ăn cho bơ những ngày đói khát trong trại tù. Ăn cho bơ cảm giác thèm thịt triền miên trong thời gian ấy”… 

            Nói xong những lời châm biếm mỉa mai với người bạn cựu tù đă chóng thay ḷng đổi dạ , tôi chán nản đạp xe ra về, chẳng để ư phản ứng của anh bạn thân, người đă từng chia với tôi từng miếng rau, củ sắn; người đă từng chia miếng thịt chuột mà tôi may mắn chộp được trong pḥng giam mườ́ lăm năm về trước.

                                                                        *****

            Tôi vốn dĩ sợ chuột, mặc dù tôi tuổi măo, cầm tinh con mèo! Trong đời, tôi chưa bao giờ làm việc cũng như sinh sống ở miền Tây Nam Bộ, nơi người ta bán thịt chuột, ca ngợi món thịt chuột!  Tôi cũng  chưa bao giờ nếm qua món ăn “đặc sản” đó! Cho đến khi ra Bắc, tôi bỗng oán ghét con vật có đôi mắt chuột láo liên, hay ŕnh rập để đục khoét các bao đựng đồ ăn của tù nhân do người nhà trong Nam gởi ra. Đó là những “thực  phẩm sinh tử” chúng tôi để dành khi cần thiết! Trong trại, chế độ ăn uống rất hà khắc. Ba ngày mới có một chén cơm, kỳ dư phải ăn bắp - hạt cứng như đá; khoai lang - bé tí như đuôi chuột; khoai ḿ công nghiệp - vừa đắng vừa hôi. Mà những thứ lương thực ấy lại quá ít để bù lại năng lượng đă mất v́ lao động quá cực nhọc… Một buổi tối, tôi được anh bạn có thân nhân tiếp tế, tặng cho một củ khoai. Tôi chưa dám ăn và đem treo trên nóc mùng. Lúc sắp ngủ, tôi cảm thấy đói bụng, bèn nh́n lên củ khoai mà phân vân tự hỏi: “Ăn hay không ăn? Nếu ăn th́ ngày mai đi lao động với chiếc bụng trống rỗng, phải chống gậy mới trèo nổi lên dốc . Nếu không ăn th́ ngay bây giờ cơn đói hành hạ cái bao tử, chịu sao thấu? ” Đói lả, mệt nhoài khiến tôi ngủ thiếp đi. Nửa đêm tỉnh dậy, nh́n lên đ́nh màn, th́ than ôi! củ khoai biến mất. Ban đầu, tôi nghĩ có lẽ một bạn đồng tù nào đó chơi xấu, đă lấy mất củ khoai. Nhưng sau tôi lại bỏ ngay ư tưởng không tốt đó. Tôi quyết đoán chỉ có chú chuột mới là thủ phạm ăn cắp củ khoai đuôi chuột của tôi thôi…

            Thế rồi, trong một đêm đông giá rét, anh em trong pḥng giam co ro nằm sát bên nhau, chờ giấc ngủ đến với nhiều mộng mị…Bỗng nhiên tôi nghe tiếng kêu vui mừng của một anh bạn cùng pḥng: “Con chuột!”. Các bạn trong pḥng ngồi bật dậy, phóng tới bắt con chuột. Chú chuột luống cuống giữa đám người reo ḥ vây quanh. Tôi nghĩ ngay đến thủ phạm ăn cắp củ khoai treo đ́nh màn đêm nọ, tức quá, bèn nhào tới chụp lấy chú chuột. Tôi đắc thắng đưa cao để khoe món chiến lợi phẩm vừa thu hoạch. Các bạn tiu nghỉu trở vào chỗ nằm, ép bụng chờ giấc ngủ. Anh bạn nằm kế bên tôi chạy đến với  nắm giấy báo trong tay:

            - Con chuột này mập mạp, ăn ngon lắm đó! Sẵn có giấy đây, ḿnh vô nhà cầu thui lên… Không ăn bỏ phí của trời!

            Vừa muốn trả thù thủ phạm đánh cắp củ khoai lang đêm nọ và vừa quá đói bụng, tôi đồng ư ngay “giải pháp hợp lư” của anh bạn đồng cảnh ! Trước khi ra tay, tôi nói thầm với chú chuột:

            - Ta với mi vốn không có mối thù “truyền kiếp” nào cả. Nhưng hôm nay ta buộc ḷng phải hóa kiếp cho mi. Chẳng qua cũng v́ cơn đói ray rức ta đó thôi! Trước khi sang thế giới bên kia, mi đừng oán trách ta nhé!

            Sau đó, tôi bóp chết chú chuột, lột da, vất bỏ bộ đồ ḷng, đốt giấy thui chú chuột nhỏ bé đáng thương kia! Sau đó chúng tôi chia nhau ăn hết con chuột, cả đầu lẫn đuôi…

            Tôi trở lại chỗ nằm trên thềm xi măng, trùm chiếc mền Nam Định mỏng manh, ngủ một giấc yên lành, có lẽ nhờ chút “protein”của chú chuột ngấm vào chiếc dạ dày lép kẹp của tôi.

                                                                        ****

            Lúc c̣n ở  bậc trung học Việt Nam, tôi đă từng đọc truyện ngắn “Miếng Bít tết” của Jack London. Nhân vật chính của tác phẩm là Tom King, một vơ sĩ quyền Anh ngoại tứ tuần. V́ sinh kế, anh ta buộc ḷng phải so găng cùng một thanh niên trẻ tuổi hơn. Và trong trận đấu quyết liệt ấy, Tom chỉ cần một miếng bít tết để có thể đạt đến thành công. Nhưng anh nghèo không đủ tiền mua thịt. Bị cơn đói dày ṿ, bị kiệt sức bởi không có miếng bít tết trong bụng, nên anh ta thua cuộc trong trận đấu định mệnh ấy.

            Hồi c̣n trẻ, với cuộc sống vật chất khá đầy đủ giữa thủ đô Sài g̣n trù phú, tôi chưa có kinh nghiệm về cái ĐÓI, cái đói- triệt- để- triền- miên. Nhưng trong những năm bị cầm tù trong trại “cải tạo” miền Bắc, tôi mới thấm thía cảm giác đói khi bị thiếu ăn trường kỳ! Cho nên, theo tôi nghĩ, nếu trong trận thư hùng giữa hai tay đấu quyền mà Jack London đă mô tả, do thiếu miếng thịt ḅ nên cơn đói hành hạ, khiến Tom King bị gục ngă… th́ miếng thịt chuột trong đêm tối lạnh lẽo trong pḥng giam trại Thanh Cẩm đă khiến tôi cảm thấy vững ḷng…  Để rồi sáng hôm sau, tôi không phải chống gậy đi lao động trong cơn giá buốt của miền rừng núi xứ Thanh …

                                                                        ****

            Hơn hai mươi năm sau, vào một buổi sáng đẹp trời ngồi uống cà phê với các bạn thơ văn trong tiệm Coffee Factory ở Westminster, miền Nam California, một anh bạn - có lẽ chưa “nếm mùi cải tạo”, đă yêu cầu tôi kể lại những tháng năm gian khổ trong trại tù  Miền Bắc Việt Nam... Nghe xong vài mẩu chuyện đắng cay trong trại Thanh Cẩm, anh bạn vui miệng hỏi thêm:

            - Tôi nghe nói trong trại, gặp con ǵ nhúc nhích là các anh “xơi tái” ngay, phải không anh?   

            Tôi liền đáp:

            -Đúng và cũng không đúng, thưa anh. Thật ra, có những con vật hôi hám, dơ bẩn chúng tôi không bao giờ đụng đến. C̣n những con vật khác như chuột, rắn, rết, kỳ đà, kỳ nhông, cóc, nhái vv.v… đă tóm được khi đi lao động là chúng tôi “mần thịt”  ngay…

            Hôm ấy tôi đă thanh minh thêm với các bạn: sở dĩ tôi kể lại những trường hợp phải ăn những con vật mà các anh cho là gớm ghiếc, chỉ có mục đích duy nhất là  muốn bày tỏ ư chí sống c̣n trong trại tù CS! Bởi trong bao năm bị đói khát hành hạ, bị buộc  lao động quá sức, chúng tôi phải t́m cách “mưu sinh thoát hiểm” để không bị gục ngă, để khỏi phải nằm lại vĩnh viễn nơi đồi Lim gần trại, nơi đă chôn bao bạn tù “cải tạo” xấu số khác.

            Tôi nhớ lại ngày nhận giấy ra trại, được cởi bỏ bộ đồ tù cũ nát, trút bỏ iại những thống khổ nhục nhằn trong bao năm qua, mặc lại bộ quần áo của ḿnh trước khi đi “cải tạo”, tôi cảm thấy ḷng tràn ngập yêu đời. Trước đây, tôi nh́n dăy núi bên kia sông quanh năm mờ mịt; nh́n ḍng sông Mă cuồn cuộn chảy, từng nhận ch́m bao bạn đồng tù t́m cách bơi qua trốn trại, tôi thật sự   chán ngấy, u buồn! T́nh cảm của tôi lúc ấy cũng giống như của nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du ngày xưa: 

                                   “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
                                    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

            Nhưng hôm nay ra khỏi trại, bỗng dưng tôi thấy cũng ngọn núi, con sông ấy lại đẹp đẽ lạ thường! Bởi tôi đă được trả tự do, ít nhất là được thoát khỏi cái nhà tù “cải tạo” nhỏ bé trên thượng nguồn sông Mă này…C̣n cái nhà tù XHCN  đang chờ tôi ngoài xă hội kia, tôi chưa thể biết được!

            Tôi hít một hơi dài như để tận hưởng cái không khí tự do đầu tiên sau bao năm tù đày…. Một luồng sinh khí như bừng dậy trong người tôi; và tôi cảm thấy ḿnh khỏe mạnh như năm xưa. Khi leo lên chiếc xe Molotova để xuống nhà ga Thanh Hóa, đón chuyến xe lửa Thống Nhất về Nam, tôi nh́n lần cuối nơi đă bị giam cầm trong bao năm qua, nơi ḿnh suưt bỏ mạng v́ bị đói khát, hành hạ … tôi nhủ thầm: cuối cùng ḿnh đă thắng. Thắng v́ tôi vẫn c̣n sống, trái với chủ trương của “bên thắng cuộc” muốn chúng tôi  phải chết nơi rừng thiêng nước độc . Đó là cái chết bi thảm của  kẻ bị tù khổ sai biệt xứ và không biết ngày về!

            Một người bạn đồng môn kiêm nhà thơ nổi danh hải ngoại, sau khi nghe tôi kể về thời kỳ ở trong trại tù Thanh Cẩm, đă gửi tặng bài “Mùa Hội Ngộ”,  trong đó có những vần thơ bi hùng như sau:               

            …. Nhưng ước vọng chưa thành, quê huơng sụp đổ
                  Tổ quốc oan khiên, anh nhận lănh tội tù                                                                                                        Trong đọa đày, trong nhục tủi khôn nguôi
                  Anh đứng thẳng nhận đ̣n thù tứ phía

                   …………………………………………………..                                                            

            Anh đă thắng v́ Anh vẫn c̣n sống đó
            Để hôm nay c̣n ngẩng mặt giữa quê người
            Để hôm nay c̣n hiện hữu Anh, Tôi
            Cùng cầu nguyện cho những người nằm xuống ...

                                                                        Phùng Minh Tiến                                                 

            Tôi viết những ḍng hồi ức này vào một đêm đông giá lạnh ở miền đất tự do, nơi tôi đă tỵ nạn hơn hai mươi năm rồi. Tôi đă kể lại với các bạn đến định cư trước ở xứ sở tự do này những mẩu chuyện về  trại tù “cải tạo” mà tôi đă sống sót. Nơi đó, chúng tôi đă cố gắng mưu sinh, chống lại cái đói triền miên khiến nhiều anh em tù nhân phải bỏ mạng…

            Nạn đói năm Ất Dậu 1945 do thiên tai và thiếu gạo xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 đă làm chết hàng triệu người và cho đến nay, đă hơn bảy mươi năm qua, vẫn c̣n hằn sâu trong trí nhớ người Việt. Đó là những cái chết kinh hoàng trên các đường phố Bắc Việt mà người ta đă chứng kiến.

            Nạn đói xảy ra tại Nigeria, Somalia, Nam Sudan và Yemen do thiên tai, chiến tranh trong những năm qua đă được thế giới biết đến và Liên Hiệp Quốc kêu gọi cứu trợ khẩn cấp…  

            Thế th́ những cái chết âm thầm của các bạn tù xấu số trong trại  “cải tạo” tại Việt Nam, khắp nơi trong rừng núi xa xôi, hẻo lánh không ai biết đến v́ bọn cán bộ quản lư trại đă dấu nhẹm, dấu cả với thân nhân của nạn nhân đến trại thăm nuôi…Những cái chết ấy liên tục xảy ra hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, hàng chục năm; những cái chết xảy ra trước mắt những bạn đồng tù như chúng tôi, th́ làm sao tôi có thể quên được?!

            Đă hơn ba mươi năm thoát khỏi cái chết đau thương âm thầm trong trại tù khắc nghiệt trên thượng nguồn sông Mă, hàng năm anh em cựu tù chúng tôi vẫn họp mặt tại khu Little Sài g̣n, miền Nam California để “điểm danh” ai c̣n ai mất; để thắp nén hương ḷng tưởng nhớ những bạn tù xấu số c̣n vĩnh viễn nằm lại trong ḷng đất trên đồi Lim, cạnh trại tù “cải tạo” Thanh Cẩm năm xưa.

            Miền Nam California, cuối Đông năm 2017
           Tam Bách Đinh Bá Tâm