Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


CHỮ  NGHĨA  M̀NH
(Viết từ cảm xúc khi đọc hàng chữ:
 “Có phải chú là LÍNH M̀NH không?”) (1)

     Sống tha hương nơi xứ người, bà con ḿnh nhận ra nhau qua tiếng nói. Những lúc gặp da vàng, tóc đen….thấy gần gũi sao đó bèn mạnh miệng chào hỏi trước và vui mừng biết bao khi được nghe trả lời bằng tiếng VIỆT. Tiếng nói sao mà thân yêu, đậm t́nh dân tộc. Nghe tiếng nói ấy như thấy cả khung trời VIỆT NAM hiện ra trong trí nhớ với tiếng rao quà bánh, tiếng nói chuyện trong tiệm nước, lời hàn huyên trong gia đ́nh,….tiếng chửi mắng bên hàng xóm,….và nghe đâu đó một lời ca tân nhạc, một câu vọng cổ, một điệu ḥ Huế, một tiếng hát chèo….mà nhà thơ Luân Hoán đă “long lanh lệ trào” khi:

                   “….Nhớ đâu đó giọng cải lương bay vào….”

     Hay       “….Nghe Hoàng Oanh hát như chim gọi đàn….”       

                                                    Bài  “ NGỒI LÊ ”

     Cùng nói, cùng nghe, cùng hiểu, cùng thấm thía….nên đă cùng t́m đến nhau, quần tụ cư ngụ gần nhau. Trong cái đồng cảm đó, dần dần bà con ḿnh cùng nhận ra nhu cầu chữ nghĩa để ghi dấu lại tiếng nói ruột thịt ấy với bao tâm tư, t́nh cảm của những mảnh đời phiêu bạt mà ḷng vẫn c̣n vương vấn với quê hương. Từ đó, báo chí, sách vở, lớp học Việt ngữ, đài phát thanh, truyền h́nh, phim ảnh, website, internet….lần lượt xuất hiện. Tất cả những thứ đó đều là chữ nghĩa ḿnh.  Một môi trường.
     Đâu có phải tới lúc này mới có chữ nghĩa ḿnh. Có lâu rồi, thân thuộc với nó lắm rồi. Nhưng cuộc đổi đời 1975 khiến nó cũng phải trôi theo vận nước khi có sự xuất hiện của một thứ tiếng VIỆT, chữ VIỆT mà ai mới biết qua đều cảm thấy lạ. Cũng tiếng VIỆT, chữ VIỆT nhưng cách xử dụng từ ngữ khi viết cũng như khi nói rất “mới mẻ” đến nỗi hai người VIỆT NAM có cùng tổ tiên, lịch sử mà lại không hiểu nhau được. Trước 1954 chữ nghĩa VIỆT NAM ḿnh đâu đến nỗi khó hiểu như vậy giữa người ba miền Bắc, Trung, Nam. Sau cái gọi là chiến thắng và chắc nghĩ rằng vùng “được giải phóng” như chỗ trũng khô cằn nên ḍng chữ nghĩa mới lạ đă ào ạt tuôn trào vào Sàig̣n. Đến cùng với lời tuyên truyền là văn nghệ ca hát, phim ảnh, sách vở, báo chí….Trong khi những thứ đó Sàig̣n cũng có và cũng bằng chữ nghĩa VIỆT NAM th́ bị cấm đoán, tịch thu, hủy diệt và bị kết án là nọc độc “tàn dư Mỹ Ngụy”. Thôi th́ ráng chịu mà “nuốt” cái mới.  Khổ một nỗi là đă cố gắng nhiều mà vẫn “nuốt” không vô, mặc dù được cho biết, riêng về báo chí, có đến mấy trăm tờ đủ loại, nhưng tiếc thay chỉ có cùng một nội dung với giọng điệu huênh hoang, không tưởng, cứng ngắc.
    
Không những người trong nước có cái khắc khoải nhớ nhung chữ nghĩa ḿnh mà người VIỆT hải ngoại đă thấy “đói chữ” khi rời khỏi quê nhà. Bị dằn vặt bởi nỗi nhớ đất nước, ông bà, họ đă cố moi trong đống hành lư mang theo có cái ǵ VIỆT NAM c̣n lại không? Có….có tiếng nói VIỆT NAM….và….phải rồi….chữ nghĩa VIỆT NAM ḿnh nữa. Cho nên ngay khi c̣n chân ướt chân ráo đứng trên vùng đất xa lạ, nhóm người Việt 1975 đă t́m đến nhau và cho “hồi sinh” chữ nghĩa ḿnh nơi hải ngoại. Một thứ lai lịch. Rồi nó được củng cố và đượm phần sinh động qua lớp người vượt biên, vượt biển cũng như thêm phần phong phú khi có những đợt di dân định cư. Tinh thần của họ được hoàn hồn dần v́ ở đây ta gặp lại ta qua chữ nghĩa ḿnh. Với sự bắt đầu và được tiếp nối, chữ nghĩa ḿnh đă được ghi khắc lại, truyền bá, phổ biến bằng đủ loại h́nh thức và phương tiện trong ư thức bảo tồn và phát triển văn hoá, truyền thống dân tộc đích thực. Một thể hiện chính nghĩa. Những ai c̣n nhớ ngày ở trại tị nạn, vớ được cuốn tạp chí VIỆT ngữ nào xuất bản tại hải ngoại là cứ miệt mài, nâng niu như t́m lại được báu vật đă bị đánh mất hay lăng mạn như gặp lại người t́nh chung thủy đi xa trở về với cái bồi hồi, mê đắm của thứ “tân thú bất như viễn quy”vậy. Biết bao lời diễn tả, sự quư trọng cái bâng khuâng, cái vui sướng, cái “đă” khi gặp lại chữ nghĩa thân thuộc ngày nào. Cám ơn chữ nghĩa đă làm cho người như sống lại và sẽ giữ ǵn con người trong mai hậu. Ngoài ra chữ nghĩa ḿnh ở hải ngoại c̣n mang tính đấu tranh chống lại sự độc tài của nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước, nơi xuất phát thứ chữ nghĩa mới lạ được dùng để tuyên truyền lệch lạc ư thức dân tộc và lịch sử. Theo đó, chữ nghĩa đối nghịch hiện hữu như một bài học nhắc nhở, đồng thời giải bầy cho con cháu biết lư do v́ sao ông bà, cha mẹ đă phải đem chúng rời khỏi cội nguồn quê hương yêu dấu và h́nh thành tại hải ngoại một cộng đồng VIỆT NAM tị nạn Cộng Sản.
    Cùng với thời gian và thử thách, chữ nghiă ḿnh đă làm nhiệm vụ trên trong điều kiện và hoàn cảnh như thế nào?  Trước hết, không phải như phía bên kia với sự yểm trợ và lănh đạo hùng mạnh từ nhân lực đến tiền tài, chữ nghĩa ḿnh “ra trận” chỉ với ư thức trách nhiệm và tấm ḷng của công dân đối với đất nước và dân tộc. Một thứ “châu chấu đá xe”. Mặt khác, v́ đặc tính đối nghịch nên phía bên kia luôn luôn muốn khống chế chữ nghĩa ḿnh. Với cái thế “lấy thịt đè người” họ dùng mọi thủ đoạn từ tuyên truyền xảo quyệt đến thóa mạ, lèo lái cùng với tà thuật lủng đoạn, lôi kéo, mua chuộc, giăng bẫy những ai yếu ḷng đang tâm làm bồi bút quảng cáo cho chữ nghĩa mới của họ ḥng khỏa lấp, bịt miệng, vô hiệu hoá chữ nghĩa ḿnh. Sau nữa giới thuởng lăm chữ nghĩa ḿnh ngày càng ít đi trong “….cái cơi ngày càng hụt người….” và nó mang thân phận của “….cái thứ chữ sẽ thành tử ngữ sau một, hai đời lưu vong…” cũng như nó đang đi vào “….con đường đă tuyệt lộ rành rành….”“….giao lưu văn hoá một chiều….”  (2)
   
Bi kịch như vậy nhưng chữ nghĩa ḿnh vẫn cứ lăng mạn, hào hùng mà kiên tŕ tồn tại v́ chính nghĩa cùng ước vọng t́m một chỗ đứng đàng hoàng cho VIỆT NAM trong thế giới văn minh. Hành tŕnh c̣n dài, nhiều thế hệ đă tiếp nối và chữ nghĩa ḿnh vẫn mang sứ mạng của thứ chứng tích hùng hồn và là một kim chỉ nam đáng tin cậy. Có thể một ngày nào đó con cháu VIỆT NAM trong và ngoài nước sẽ phải t́m đến “tàng kinh các”  như một thứ thư viện VIỆT NAM nối dài sau 1975 hay một văn khố lưu vong mà không có chánh phủ nào trả tiền công nhưng vẫn cứ cặm cụi sưu tầm, thu thập, bảo tồn, phổ biến một thứ chữ VIỆT NAM mà không cần phải tranh luận ǵ hết v́ tính tự nhiên, nguyên thủy, trung thực, trong sáng, hiền ḥa và tử tế của nó. Đó là chữ nghĩa ḿnh, một báu vật tinh thần được bà con ḿnh cùng góp công sức giữ ǵn từ bấy lâu nay.

BÙI ĐẮC DANH

(1)   Chuyện dài “Ngắn Cổ Khó Kêu” của Nguyễn Đức lập, nhà xuất bản Hoa Gấm, Hoa Kỳ 1989.

(2)   “Viết Như Niềm Ái Ngại” của Cao Vị Khanh, Diễn Đàn Báo Ngươi Việt, ngày 31 tháng 5 năm 2005, phát hành tại California, Hoa Kỳ.